Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

Huyền bí Hải Vân Sơn

Vào cuối mỗi mùa xuân, từ trên vùng núi Hải Vân cao ngất, gió thổi rụng xuống mặt biển một loại hoa ngãi thần bí mà loài cá nào ăn lá ấy sẽ được hóa thành rồng…
Nhắc đến “Hải Vân sơn” người ta có thể mường tượng không chỉ “một ngọn” (Cao An Lĩnh) mà là cả “một dải” núi cao (Ngãi Lĩnh), trùng trùng lừng lựng đứng bên bờ biển Đông, trên đoạn đường thiên lý từ kinh đô Huế vào Đà Nẵng ngày xưa.Ở đó thể hiện rõ nét nhất sự kết hợp tiêu biểu của 3 yếu tố sống động: phong + thủy + sơn của duyên hải miền Trung…
 Một loài cá mang “bào thai” như người
Cũng ở đó, khi đến xứ Đàng Trong vào thế kỷ 17 theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiển tông hoàng đế), hòa thượng Thích Đại Sán đã đi thuyền ngang qua và ghi lại một chi tiết mà đến nay các nhà nghiên cứu vẫn thường nhắc: “Từ Thuận Hóa vào Hội An đường bộ tất do Ngãi Lãnh (đèo Hải Vân).Sách Dư ký bảo rằng: Khoảng tháng hai, tháng ba, hoa ngãi nở, trôi ra biển, cá ăn hoa ấy hóa rồng – tức là hoa ngãi núi này vậy” (1). Nhưng theo các bô lão, không hẳn bất cứ loài cá nào “ăn hoa ngãi” cũng hóa rồng.Vậy loài nào có đủ sức cảm ứng và hóa thân để bay lên khỏi sóng thần?
Để tìm hiểu, chúng tôi thử điểm lại một số loài cá sinh sống ở sông biển nước ta ghi trong Đại Nam nhất thống chí qua bản dịch của Phạm Trọng Điềm – do Đào Duy Anh hiệu đính – như cá gáy (lý ngư) là loại cá quý với 36 chiếc vẩy chạy thành một đường dài dọc theo xương sống, trên mỗi chiếc vẩy lại có điểm một chấm đen nhỏ.Hoặc cá chình (man lễ ngư) uốn éo như con rắn dài và có bốn mắt thì không được bắt ăn, vì nếu ăn thịt nó sẽ trúng độc chết.Lại có loại cá sấu (ngạc ngư) với “mồm rồng, móng hổ, mắt cua, vẩy kỳ đà, đuôi dài vài ba thước, to như lá cờ, có gai như móc câu, lặn dưới nước, thấy người hoặc súc vật đi qua, thì vung đuôi lên chụp bắt cũng như loài voi dùng vòi (cuốn lấy) vậy”.Cá ông voi hiền lành hay cứu người, có loại Bạch ngư dài 20 trượng, loại Hải thu phun nước lên trời “gió bay đi như mưa”, đầu đời Minh Mạng ban tên là Nhân ngư – đến đời Tự Đức ban tên Đức ngư.Cá lờn bơn (điệp ngư) thân mình gồm hai mảnh, khi bơi phải ghép hai mảnh ấy vào nhau mới bơi được, miệng ở gần dưới bụng.Cá nóc (giang đồn) thường nhởn nhơ làm dáng, ra vẻ ham chơi, lấy mỡ của nó để thắp đèn “khi chiếu vào chỗ cờ bạc thì sáng, chiếu vào chỗ đọc sách thì tối”… Cả mấy chục loài cá được nêu, chưa biết loài nào có linh tánh để “ăn hoa hóa rồng”? Chỉ nghe kể chuyện cá giao ngư gần với câu trả lời như dưới đây.
Giao ngư vốn là một loài cá lớn nhất trong hệ cá hải sa (cá nhám – vì trên da lưng có cát) to lớn dị thường và dài tới vài trượng “mắt đỏ, miệng to, tính nanh ác, hay ăn thịt người”.Khi chúng giao hợp nhau sinh con bằng bào thai (thai sinh) chứ không phải bằng trứng (noãn sinh) như các loài cá khác (chúng cũng có loài hung dữ tên là Hải đầu sa có thể hóa thành hổ).Một con giao ngư như vậy đã sinh ra một con thủy quái lớn nhanh như thổi.Thủy quái chiếm một hang đá làm sào huyệt dưới chân núi để tìm ăn những bông hoa lạ từ rừng rơi xuống.Loài hoa này cũng thuộc loại “kỳ hoa” theo gió rụng xuống các dòng suối để trôi ra sông biển.Ăn hoa xong, con thủy quái biến thành một quái vật đầu rồng, miệng lúc nào cũng há rộng với hai chiếc nanh nhọn.Từ đó nó tu luyện thêm, hóa thành người và bay lên đỉnh núi, đằng sau dãy núi cao ngất kia có một “nữ vương Chăm-pa” đang trị vì xứ sở nhỏ bé thanh bình của mình.Nó bay đến đó với đoàn tùy tùng mang sính lễ theo sau để ép nữ vương làm vợ.Từ cõi trời, thần hộ mạng của nữ vương được Shiva cho phép đã giương cung bắn những mũi tên với đầu lửa Agni sáng rực đốt cháy bùa phép của quân ma khiến chúng hiện nguyên hình những con cá sấu, cá gáy, cá chình, xà ngư, rùa và cả mãng xà, trăn đốm nữa.Ngay thủy quái tóc cũng dựng đứng chạy dọc sống lưng thành một cái bờm dài, với những chiếc vẩy cứng sắp lớp và…biến mất!
Tuong thuy quai Makara tai Bao Tang dieu khac Cham Da Nang_1
Tượng thuỷ quái Makara tại Bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng
Về hình tượng, thủy quái “ăn hoa ngãi” hóa rồng trong chuyện trên giống với “thủy quái Makara” trong nghệ thuật điêu khắc Chăm mô tả qua một tượng thế kỷ 12 (trưng bày ở Bảo tàng Chăm – Đà Nẵng): Makara “hóa thành rồng” với “mình và chân sư tử, đuôi của rắn Naga” và với “lòng hai bàn chân trước mở ra như tay người, hai chân sau giấu dưới bụng – đầu Makara có bờm tóc cứng (…) miệng có hai răng nanh dài nhọn chìa ra ngoài (…), hai hàm răng nhiều chiếc nhô ra, miệng có lưỡi uốn cong lên phía trên hàm, hai tai thể hiện thành hình chiếc lá mềm mại – Makara là loài thủy quái, nguyên thủy đó là một con cá sấu Ấn Độ to lớn nhưng sau lại là một con cá heo Hy Lạp” (2).
Về nội dung, chuyện nữ vương Chăm-pa trên từa tựa như một truyện cổ khác được kể ở vùng núi cách rất xa Hải Vân sơn về hướng tây bắc, giáp Lào, xưa có “một con thuồng luồng sống trăm ngàn mùa lũ, nó biết nhiều phép, đã hóa ra 100 mâm vàng bạc, 100 mâm ngọc trai, ngà voi, da báo đem đến hỏi cưới nữ vương làm vợ” nhưng bị từ chối nên đã tức giận dâng nước ngập kinh thành, rồi kéo “bao nhiêu quân ma tướng quỷ đến tàn phá xóm làng”.Giữa lúc nguy ngập bỗng một chàng trai xứ Việt mặc áo choàng xanh xuất hiện đánh bại Quỷ vương rồi lặng lẽ biến đi mất: “Thần dân thành Mahuân tưởng nhớ công ơn dựng đầu núi đất Mường một pho tượng người trai mặc áo choàng rách bươm vì trận chiến ác liệt – nữ vương suốt ngày đêm ngóng chờ, thương cảm vô cùng, nước mắt tuôn thành suối, chảy uốn quanh chân núi, dồn đọng vào văng Ca Phúc (vực Anh Phúc).Đến nay dân tộc Lào Ngam vẫn được các mỏ lăm (tức thầy hát dạo) kể chuyện về sự tích mỏm đá Áo Rách với vực Anh Phúc là tượng trưng tình nghĩa Việt – Lào.Hai di tích huyền thoại này ở mường Sê-pôn đang là điểm du lịch kỳ thú của tỉnh Savanakhet – Trung Lào” (3).
So sánh chuyện “Nữ vương Chăm-pa” nghe được ở vùng Hải Vân với chuyện ở Mường Sê-pôn trên, chúng tôi thử hỏi phải chăng có một “mạch” văn hóa Việt – Chăm – Lào ứng theo thế núi “từ các núi Đại Tu Nông, Tiểu Tu Nông, núi Tía và núi Kiền Kiền ở phía biên giới Ai Lao về phía tây, từng đợt kéo đến ngọn núi trùng điệp, cao vót tầng mây thẳng đến sát biển” (ĐNNTC).
Thiên hạ đệ nhất hùng quan
Nằm ở phía đông nam huyện Phú Lộc, vùng núi Hải Vân với nửa đèo phía bắc thuộc địa phận Thừa Thiên – nửa đèo phía nam thuộc Quảng Nam: “phía tây (núi Hải Vân) là núi Bà Sơn, phía bắc là núi Hải Sơn; ba ngọn núi ấy liên tiếp xen nhau, trên cao vót đến tầng mây, dưới chạy giăng đến bờ biển, đường đi chín khúc vòng mới vượt qua đèo, hai bên cây lớn um tùm, người đi như vượn leo chim vượt, thật là  hiểm trở” (ĐNNTC).
_D7N4938_resize
Đèo Hải Vân
Trường hợp ba ngọn núi cận kề và “liên tiếp xen nhau” như vậy, theo các nhà dịch lý và phong thủy học Việt Nam cần được xem xét theo các bối cảnh khác nhau.Nếu ba ngọn nằm dưới vùng đồng bằng có hình tam thai hoặc hình chữ phẩm đều quý vì “như hình tam thai, phẩm tự, vị chi thượng thư”, Cao Trung giải thích: “Ba trái núi nhọn đầu, ngọn giữa cao, ngọn hai bên thấp, là hình tam thai – còn ba trái núi tròn đầu là hình chữ phẩm – nơi ấy (sẽ có người) làm tới thượng thư”.Nếu núi có hình như chiếc mão, đứng tựa, đất kết nơi ấy sẽ có người làm tới đông cung thị giảng, dạy các hoàng tử trong cung vua “hình như tịch mạo, ỷ lập đông cung thị giảng“.Nếu núi có hình như tòa lâu đài, ngọc bộ, sẽ sản sinh người làm chức ngự sử đảm nhận quyền can gián vua “hình như lâu đài, ngọc bộ, chức cư ngự sử“.Nếu núi rời rạc, tán loạn, gia đình sẽ chia lìa, cha con phân ly “hình như tán loạn phụ tử phân ly“… Nhưng ở đây là cả một dải núi liên hoàn dồn tụ nên khí lực phong thủy không chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ đến một hai số phận mà chung cho cả cộng đồng (gọi là cộng nghiệp) Từ đặc điểm ấy, trong lịch sử, vùng Thuận Hóa với dải Hải Vân là “đất phên giậu” của nước ta một thời.Hải Vân cũng là danh sơn được viết đến bởi nhiều tác gia Việt Nam như Dương Văn An (1555), Lê Quý Đôn (1776)…
4_resize
Thiên hạ đệ nhất hùng quan
Đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu tuần du qua núi Hải Vân có thơ ngự đề với câu mở đầu “Việt Nam hiểm ải thử sơn điên” (Núi này ải hiểm đất Việt Nam) và Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “về phía bắc chân núi kề bãi biển có hang Dơi, có bãi Cháy, tương truyền xưa có sóng thần, thuyền đi qua đây hay bị đắm nên dân gian có câu ca rằng “đi bộ thì sợ Hải Vân – đi thủy thì sợ sóng thần hang Dơi” là chỉ chỗ này”.Vua Minh Mạng cũng sai xây cửa Hải Vân năm 1826, cửa hướng về phía kinh đô Huế đề 6 chữ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” và cửa hướng về phía Quảng Nam đề 3 chữ “Hải Vân quan” – bằng đá thanh – và cho khắc nổi hình Hải Vân sơn và Hải Vân quan vào Cửu đỉnh (Dụ đỉnh).Vua Minh Mạng cũng sai lập đền thờ thần núi Hải Vân trên đất xã An Cư (Phú Lộc) là một trong các đền thờ sơn thần lớn nhất với điển lệ cúng tế riêng (4).
Đặt núi Hải Vân (cùng Bạch Mã và Đèo Ngang) trong bối cảnh chung của các vùng văn hóa trên toàn quốc để xem xét: “từ bắc tới nam ta thấy nơi đây có nhiều mạch núi ăn ra tận chân sóng biển (…) Ngô Thì Trí trong bài văn Đăng Hải Vân quan phú đã mô tả cảnh sắc hùng vĩ của Hải Vân: Ngọn núi này khí át sông Ngân, thế nuốt bờ biển, tầng đá trập trùng khó vịn, cây cối xum xuê rợp bóng, sóng vỗ ầm ầm như tiếng sấm vang trời, suối chảy rào rào như mưa từ lưng trời đổ xuống”.Kỹ sư Nguyễn Hữu Đính trong một tờ trình năm 1962 đã ghép Hải Vân với Bạch Mã vào tên gọi “Lâm viên quốc gia Bạch Mã – Hải Vân”.Ở độ cao 1.000 – 1.444 m, Bạch Mã có một quần thể kiến trúc gồm 139 biệt thự nghỉ mát được xây từ nửa đầu TK 20, mỗi biệt thự có một dáng riêng về tạo hình mỹ thuật, tạo thành một góc phố núi nhỏ nhắn êm đềm bên dải Hải Vân hùng vĩ.Nhưng rất tiếc, khu biệt thự trên bị triệt phá bỏ hoang trong thời chiến và Bạch Mã trở thành “nàng công chúa ngủ trong rừng” nằm mơ màng cô độc ở cuối dãy Trường Sơn bắc…
(1) Hải ngoại ký sự – Viện Ðại học Huế, Ủy ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam, 1963
(2) Huỳnh Thị Ðược – Ðiêu khắc Chăm và thần thoại Ấn Ðộ, NXB Ðà Nẵng 2005
(3) Nguyễn Việt Phương – Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh huyền thoại, NXB Trẻ
(4) Xem Nguyễn Văn Ðăng – Hải Vân sơn trong sử sách triều Nguyễn, Tập san TT Khoa học và công nghệ, Huế số 2 (28) – 2000 
Theo Tạp chí Duyên Dáng Việt Nam – Bài: Giao Hưởng, Ảnh: Gia Tiến, Tư liệu

An Lăng – Những tình cờ lịch sử

An Lăng là nơi an nghỉ cuối cùng của cả ba nhà vua: Dục Đức – Thành Thái – Duy Tân và là một cuộc đất chứa đựng những tình cờ lịch sử vượt khỏi tầm nhìn của các nhà dịch lý và phong thủy học cung đình.
Vua Duy Tân với “Đệ nhất giai phi” Mai Thị Vàng
Cuộc đất An Lăng nằm khiêm tốn và yên ắng về phía hữu ngạn sông Hương bỗng trở mình sống động từ ngày có sự biến kinh thành (1884) và một khu lăng mộ được dựng lên ngoài dự tính của hoàng gia (1889). Những điều “ngoài dự kiến” tiếp đó có thể bắt đầu từ chuyện hôn nhân của hoàng tử Vĩnh San.
Hoàng tử Vĩnh San tức vua Duy Tân (ở ngôi từ 1907-1916) là con vua Thành Thái (ở ngôi từ 1889-1907) – hai cha con nhà vua mỗi vị đều có một mối nhân duyên ở Kim Long ngoài dự định ban đầu của hoàng gia. Về vua Thành Thái đã biết đến trong các số DDVN trước. Về vua Duy Tân, cuộc hôn nhân của nhà vua với “đệ nhất giai phi” Mai Thị Vàng – con gái của thầy dạy học Mai Khắc Đôn – đã thành giai thoại trong pho “tình sử” Kim Long. Theo tài liệu của cụ Phạm Khắc Hòe được một số tác giả như nhà văn Nguyễn Đắc Xuân tham khảo và kể lại qua cuốn Chuyện nội cung các vua (NXB Thuận Hóa 1999), thì vào cuối năm 1915 khi vua Duy Tân sắp lên 16 tuổi, mẹ của vua là bà Nguyễn Thị Định muốn “nạp phi” (cưới vợ cho vua) nên các thái giám đã lập một danh sách chừng 25 mỹ nữ con nhà danh giá kèm theo ảnh dâng lên để vua lựa chọn.
Roi-Duy-Tan 1907
Vua Duy Tân lúc nhỏ
Nhưng Duy Tân tìm cách hoãn đi hoãn lại chưa muốn chọn ai. Bị mẹ thúc hối, nhà vua mỉm cười thưa: “Con đã có người ưng ý rồi!”. Hỏi người “ưng ý” ấy hiện ở đâu. Vua đáp ở Cửa Tùng. Mẹ vua sai sắm sửa thuyền rồng cùng con ra Cửa Tùng cốt để nhìn mặt cô dâu. Song đến đó suốt năm ngày liền vẫn chẳng thấy ai ra mắt cả. Mẹ vua có vẻ thất vọng hỏi thị vệ thì được nghe đáp: “Không hiểu sao mấy hôm nay mỗi lần ra bãi tắm, vua rất say mê việc đào bới cát, có khi đào rất sâu (…) ngài bảo: ta đang đãi cát tìm vàng đây!”. Nghe vậy mẹ vua càng băn khoăn, không hiểu thực hư thế nào, mới hỏi nữa, vua đáp mình đào bới cát chính là để tìm người ưng ý đã nói. Mẹ quở vua điên rồi à. Vua nói không, thật đó, nếu ở đây không tìm được vàng thì về kinh thành Huế sẽ tìm được thôi. Rồi lần lần vua hé lộ tâm tư với hoàng mẫu, bà mừng nói: “Rứa thì ả hiểu rồi. Người yêu của con là Mai Thị Vàng con gái quan phụ đạo Mai Khắc Đôn chứ gì?”. Vua thưa đúng thế. Và sau đó lễ nạp phi được tiến hành gấp gáp và trọng thể tại bộ Lễ vào 12 tháng chạp Ất Mão nhằm 16.1.1916 (có tài liệu ghi 26 tháng chạp Bính Thìn, nhằm 30.1.1916). Cưới nhau chưa bao lâu, vua Duy Tân tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang Phục Hội do Thái  Phiên và Trần Cao Vân tổ chức nhưng thất bại và bị Pháp bắt đày sang đảo Réunion. Lúc bấy giờ bà quý phi Mai Thị Vàng đã có thai ba tháng cùng đi với vua Duy Tân sang Réunion.
Duy-Tan nam 30 tuoi
Vua Duy Tân năm 30 tuổi
Mẹ vua và em ruột nhà vua mới 12 tuổi (Mệ Cưởi) cũng đi theo. Hai năm sau, cả ba người không hợp khí hậu và thủy thổ nên đã chia tay nhà vua để về lại kinh thành Huế. Từ đó quý phi Mai Thị Vàng mặc dầu được vua Duy Tân viết thư xin Hội đồng gia tộc chứng nhận và cho phép bà Mai Thị Vàng được đi bước nữa nhưng “bà hoàng quý phi cương quyết giữ tiết với chồng, bà thường ngâm câu: Gìn vàng giữ ngọc cho hay – Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời. Đến năm 1929, cựu hoàng Duy Tân lấy vợ (…) nhiều người khuyên bà Vàng nên lấy chồng (bà mới 30 tuổi) nhưng bà vẫn không nghe, thường nói: Đá dù nát – Vàng chẳng phai, Tử sinh vẫn giữ lấy lời tử sinh” (Nguyễn Viết Kế).  
Một ngoại lệ về phong thuỷ thời Nguyễn
Các vua nhà Nguyễn hết sức cẩn trọng trong việc tìm đất để xây lăng, vì thế các quan chuyên trách về địa lý phải tuân thủ những yêu cầu nghiêm ngặt về phong thủy để chọn lựa. Đại để một cuộc đất cát tường phải hội đủ các điều cốt yếu sau. Phải có Tiền án: tức một ngọn đồi hoặc ngọn núi nằm xa xa về phía trước để ngăn chặn tà khí, cũng như tránh các thế lực ma quỷ dòm ngó. Phải có Minh đường là khoảng đất rộng thoáng trước khu lăng mộ để mọi người đủ chỗ đến chiêm bái đông đúc và để tầm nhìn của nhà vua có thể phóng vào không gian rộng mở. Phải có Hậu chẩm là núi đồi nhô cao phía sau để làm chỗ gối đầu cho vua yên nghỉ. Phải có Thủy tụ là nơi nước tụ về biểu hiện của quyền lực và phú quý đời đời sẽ thuộc về dòng dõi của hoàng đế đương triều một cách đương nhiên như các dòng nước ngày đêm vẫn không ngừng “chảy vào chỗ trũng”. Phải có một không gian bao trùm toàn thể khu lăng mộ theo dáng Rồng cuộn hổ ngồi với các dãy núi xa xa chạy lại ôm lấy cuộc đất để biểu lộ “cái tâm” của tự nhiên sẵn sàng phục tùng chầu bái. Cứ theo các điều kiện đó mà nhà vua sai các quan chuyên trách và các thầy giỏi về dịch lý phong thủy học dò tìm đất xây lăng. Nhưng riêng lăng Dục Đức – nơi cải táng vua Thành Thái và Duy Tân – thì lại nằm ngoài ý định và quy trình chọn đất, mà khá tình cờ, không có những khởi động ban đầu cần thiết. Đó là do lăng Dục Đức được xây nên từ một tình cảnh lịch sử hết sức bề bộn. Nguyên vua Dục Đức (ông nội vua Duy Tân) sau 3 ngày  lên  ngôi đã bị truất phế và giam đói trong ngục cho đến chết. Thi hài của ông được cuốn vội vàng trong một chiếc chiếu dùng làm quan tài để đưa đi chôn vào một đêm mưa gió, khi khiêng gần đến chùa Tường Quang thì dây chằng bị đứt khiến “quan tài” rớt xuống đất và lăn vào một vũng nước. Người ta cho rằng đó là nơi “thiên táng” (trời chỉ cho chỗ chôn) nên giữa đêm khuya đã lấp đất lại, đắp thành một ngôi mộ như đã trình bày trong kỳ trước. Về sau, năm 1889 con ruột của vua Dục Đức lên ngôi là vua Thành Thái đã xây nơi ấy thành một khu lăng mộ và dựng điện Long Ân để thờ cha mình.
Lang Duc Duc 1_resize
Lăng Dục Đức
Theo mô tả của Trần Ngọc Bảo trong cuốn Từ điển ngôn ngữ – văn hóa du lịch Huế xưa, NXB Thuận Hóa 2005, điện Long Ân xây theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc – gồm 5 gian 2 chái sơn son thếp vàng, chạm trổ công phu”. Mộ vua Dục Đức và hoàng hậu Từ Minh đặt song song nhau “theo kiểu càn khôn hiệp đức hay song táng”. Nằm giữa mộ vua và hoàng hậu có một tòa nhà hình vuông mỗi cạnh 8 mét (nhà Huỳnh Ốc) trên mái lợp ngói hoàng lưu ly (màu vàng) và có “một bệ đá dùng làm nơi bày lễ cúng”. Và trong khu vực lăng có mộ vua Thành Thái (lên ngôi năm 1889) là người đã “canh tân đất nước, lập trường Quốc Học, dưới thời Thành Thái đã xây cầu Trường Tiền, lập chợ Đông Ba, mở đường Nam Giao tàn lộ, thành lập thị xã Huế”. Vì chống Pháp ông bị Pháp đưa đi an trí tại Vũng Tàu năm 1909, sau đó đưa sang đảo Réunion, đến năm 1947 vua Thành Thái “được về nước và đã sống ở Sài Gòn đến khi mất vào năm 1954, mộ vua giống như mộ dân thường không lớn như lăng mộ các vua đời trước”. Còn vua Duy Tân tử nạn máy bay tại Trung Phi năm 1945, an táng tại nghĩa trang Baiki và cải táng về An Lăng năm 1987.
Một ghi nhận khác cho biết lúc đầu khu vực lăng “chỉ là một ngôi mộ đất nhỏ bình thường (1883-1888) nếu không nói là tầm thường, chẳng được mấy ai hương khói”. Nhưng về sau nơi đó “có đầy đủ quy cách kiến trúc của lăng tẩm một ông vua (…) rộng 56.144m2 với 20 công trình kiến trúc lớn nhỏ; chia ra hai khu vực lăng và tẩm nằm cách nhau khoảng 100m” (1) với la thành bao bọc. Riêng khu lăng mộ rộng 3.445m2 có hai mộ của vua Dục Đức và hoàng hậu Từ Minh xây bằng đá Thanh được “thiết trí theo nguyên tắc nam tả nữ hữu – những hình ảnh tam sư hý cầu và song phượng đắp nổi ở hai bình phong sau hai ngôi mộ cho thấy rõ hơn về nguyên tắc đó (…). Đáng lưu ý nhất là trên mặt tấm bình phong xây trước mộ nhà vua, có đắp nổi hai chữ “hỷ” ghép lại với nhau, đọc thành “song hỷ”; và đối xứng với nó là hình ảnh chữ “thọ” cách điệu hoa lá thành hình tròn viên mãn được đắp nổi ở tấm bình phong trước ngôi mộ bên kia. Hỷ là vui mừng. Thọ là sống lâu. Ở chỗ chôn người chết mà lại vui mừng và sống lâu, đó không phải là một điều lạ sao. Nó bắt nguồn từ quan niệm sống gởi thác về của người Đông phương thuở trước” (2).
Lang Duc Duc 2_resize

Lăng Dục Đức
Ngày nay, lăng Dục Đức cùng hệ thống lăng tẩm nhà Nguyễn nằm trong quần thể di tích Huế đã trở thành di sản thế giới với nhiều tài liệu minh chứng, đánh giá và tôn vinh có từ ngót gần cả trăm năm trước. Chẳng hạn Toàn quyền Albert Sarraut trong một lần diễn thuyết tại Paris ở Đại học đường Nữ giới (Université des Annales) vào tháng 12.1916, đã nhấn mạnh: “Muốn hiểu tâm hồn người Việt Nam, muốn biết sức mạnh cổ điển trong nước lấy việc phụng sự tổ tiên làm gốc, muốn thấu được tôn chỉ cao thượng của tư tưởng người nước Nam, muốn tưởng tượng được cái vẻ rực rỡ trong lịch sử văn minh dân ấy, thì tất phải hằng giờ đi dạo chơi thơ thẩn trong mấy chốn bồng lai tiên cảnh là những lăng tẩm của các vị đế vương nước ấy…” (3).Vậy là trong giá trị lăng tẩm mà Albert Sarraut đề cập tới trên, lăng Dục Đức đã gắn liền với những tình cờ lịch sử để vượt qua khỏi giai đoạn dò tìm cuộc đất phong thủy đắc địa và tự khẳng định cho mình một vẻ đẹp riêng.
 (1)  và (2): Phan Thuận An – Quần thể di tích Huế, NXB Trẻ 2007.
(3) Phạm Quỳnh dịch – Thượng Chi văn tập, NXB Văn học 2006.
Theo Tạp chí Duyên Dáng Việt Nam – Bài: Giao Hưởng – Ảnh: Tư liệu

Khải Định với những bí quyết phong thủy thời Nguyễn

Mặc dầu đã sẵn sàng ­tiếp nhận phong cách kiến trúc mỹ thuật mới mẻ đến từ phương Tây nhưng vua Khải Định vẫn giữ gìn và tuân thủ truyền thống ứng dụng dịch lý và phong thủy vào việc xây lăng cho mình như các đời vua trước đã từng làm…
Điều đó thể hiện rất rõ qua việc vua Khải Định sai các thầy địa lý cùng các quan chuyên trách đương thời khảo sát kỹ lưỡng địa thế và đặc điểm sơn thủy ở nhiều nơi trong vùng Nam sông Hương (hữu ngạn). Và họ đã tìm được một thế đất nằm cách kinh thành Huế khoảng 10km về phía tây nam, trên một sườn núi có độ dốc vừa phải dường như “sinh ra để làm nơi ngả lưng cho một linh hồn quyền quý”…
Thế núi Châu Chữ với lăng Khải Định (Ứng Lăng)
Núi có tên Châu Chữ mà theo Đại Nam nhất thống chí nằm về phía tây bắc của huyện Hương Thủy, có một con suối kề cận từ phía nam chảy về, đó là suối Châu Ê. Núi không cao lắm song nằm giữa khung cảnh thiên nhiên thoáng đãng, có dòng nước uốn mình qua chân núi, có các dãy đồi nhấp nhô xa xa dưới tầm nhìn và  một rừng cây xanh bao bọc.
Vua-Khai-Dinh_resizeVua Khải Định
Như vậy, yếu tố nước (thủy) và núi (sơn) kết hợp cùng các chi tiết cát tường về mặt phong thủy khiến nhà vua hài lòng, chấp thuận và ra lệnh huy động hàng ngàn nhân công lên vùng núi Châu Chữ vào mùa thu năm 1920 để phát quang mở đường, làm lộ ra dưới ánh nắng một cuộc đất nằm nghiêng theo sườn núi, mà sau này lăng Khải Định  tọa lạc ở đó với diện tích khoảng 111m bề dài và 49m bề ngang. Diện tích đó tuy nhỏ so với lăng của các vua tiền nhiệm song lại phải tốn thời gian xây dựng lâu nhất: liên tục trong 11 năm. Các lăng vua Nguyễn xây trước đó không kéo dài bằng như lăng Gia Long xây trong 6 năm, lăng Minh Mạng trong 4 năm và lăng Tự Đức 3 năm.
Đi từ hướng suối Châu Ê chảy trước mặt lăng vào núi Châu Chữ sẽ thấy lăng Khải Định hiện ra với các bậc cấp đầu tiên dẫn lên điện thờ (tả hữu tùng tự) và một sân chầu có đặt nhiều tượng quan văn võ và tượng ngựa voi (bái đình), nhà bia (bia đình) với trụ biểu rất cao thuộc dạng Stupa dựng hai bên. Tiếp đến là nhiều bậc cấp khác nối lên chỗ cao nhất (cung Thiên Định) có nơi đặt án thờ vua (điện Khải Thành) và nơi đặt thi hài vua (điện Chính Tâm) cùng Tả hữu trực phòng xây ở hai bên các điện trên. Từ dưới lên đến chỗ cao nhất của lăng có tất cả 127 bậc cấp với 5 tầng sân.
The Mieu - HueLăng Khải Định
Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao về nghệ thuật trang trí nội thất, tạo hình mỹ thuật tại công trình kiến trúc chính của lăng là cung Thiên Định. Ở đây, các nghệ sĩ ngày trước đã thể hiện qua các họa phẩm vẽ trên trần cũng như trên tường bằng những nét sinh động về cảnh trí thiên nhiên với hoa lá, chim muông, mai trúc, hạc rùa. Những bức họa chiếm hàng chục mét vuông có giá trị mỹ thuật cao. Nghệ nhân thời ấy cũng đã sử dụng hàng vạn mẫu sành sứ và thủy tinh nhiều màu để đắp nổi hàng ngàn hình ảnh về cảnh vật trong cung đình lẫn ngoài dân gian Việt Nam, cùng những bức tranh tứ thời, bát bửu… Điều đặc biệt khiến nhiều tác giả nhắc tới là lăng này có một pho tượng bằng đồng tạc hình vua Khải Định đang ngồi trên ngai vàng tạo tác tại Paris năm 1920 bởi hai người Pháp là P. Ducuing và F. Barbedienne. Tượng được chở về Việt Nam và được mạ vàng tại kinh đô Huế, đặt giữa cung Thiên Định (ở điện Chính Tâm). Phía trên ngai vàng vua đang ngồi có che một bửu tán bằng xi măng “nặng cả nghìn cân” được gia công kỹ thuật khéo léo đến nỗi trông y hệt một chiếc lọng lớn bằng lụa gấm vậy. Sau lưng tượng có chạm hình “mặt trời lặn”, bên dưới ngai vàng là nơi đặt thi hài vua Khải Định – qua đời năm 1925 sau 9 năm ở ngôi, thọ 40 tuổi. Lúc ấy lăng xây đã 5 năm nhưng chưa xong và phải tốn thêm 6 năm nữa mới hoàn thành dưới thời vua Bảo Đại (vào 1931).
(Hué) Tượng vua Khải Định trong lăng
Nhìn tổng quát, lăng Khải Định có dạng như một lâu đài cổ của châu Âu được xây bằng nhiều vật liệu mới lúc ấy như ngói ardois, gạch vuông, cùng những hình ảnh lạ mắt đối với thời bấy giờ như chiếc đèn dầu hỏa, cột thu lôi, cửa sắt…. Qua đó cho thấy vua Khải Định muốn có những kiểu cách đa dạng trong bày trí mỹ thuật, trang trí lăng tẩm. Nhà vua đã “đặt làm đồ sứ phục vụ yến tiệc kiểu Pháp tại lò sứ Sèvres ngày 14.8.1922, toàn bộ gồm 694 món phủ men xanh thẩm giống men pháp lam Huế (Prussian blue) nổi bật hoa văn màu vàng rực rỡ” (Trần Đình Sơn).
Đến nay nhiều nhà sưu tập cổ vật vẫn nhắc đến đồ sứ ký kiểu có nền sứ men tím thẫm sang trọng thời đó. Trở lại với lăng Khải Định, điều đáng ghi nhận là các nghệ nhân Huế xưa đã kết hợp sáng tạo giữa chất liệu mới từ Pháp đưa sang với mỹ nghệ truyền thống Việt Nam trong các công trình của mình, họ dùng màu xanh sẫm “vẽ lên mặt xi măng láng làm cho các bức tường trông giống như xây bằng đá cẩm thạch” (Trần Ngọc Bảo). Nhiều nhà nghiên cứu kết luận, lăng Khải Định là bằng chứng sống động về giai đoạn đầu của sự tiếp nhận kiến trúc Tây phương trên nền tảng của truyền thống tâm linh Đông phương vì “tất cả núi đồi khe suối của một vùng rộng lớn quanh lăng đều đã được dùng làm các yếu tố phong thủy gồm tiền án, hậu chẫm, hổ phục, rồng chầu, minh đường, thủy tụ – tạo ra được cho lăng Khải Định một ngoại cảnh thiên nhiên hùng vĩ và tráng lệ” (Phan Thuận An).
Bí quyết phong thủy trong việc chọn hướng dựng nhà và xây vưởn ở kinh thành Huế
Tính đến thời vua Khải Định, kinh thành Huế đã qua hơn 110 năm xây dựng. Cạnh các công trình kiến trúc thành quách, cung điện và lăng tẩm, thì hệ thống nhà vườn của Huế cũng đã thật sự hình thành trong thời gian ấy đủ để Huế xứng đáng với biệt danh “thành phố nhà vườn” mang đậm yếu tố phong thủy. Đó là điều khẳng định của nhiều tác giả – như GS.TS. Ngô Đức Thịnh và GS. Lê Văn Hảo chẳng hạn: “Kiểu kiến trúc khuôn viên nhà – vườn tạo nên kiểu thành phố vườn”. Hoặc GS. Trần Quốc Vượng gọi Huế là “một thành phố nhà vườn”. Nhà vườn Huế khác với các đô thị khác trong nước bởi vẻ đẹp có phần huyền bí do các đặc điểm phong thủy tạo nên. Để bạn đọc rõ hơn về nét đặc biệt này dưới thời các vua Nguyễn, chúng tôi trích dẫn một vài nét chính trong tài liệu khá chi tiết của hai ông Vĩnh Cao và Phan Thanh Hải về “Phong thủy trong vườn Huế” giới thiệu trên Tạp chí Nghiên cứu và phát triển -Sở Khoa học và công nghệ Thừa Thiên Huế số xuân Bính Tuất 2005 dưới đây:
Việc đầu tiên trong các động thái quy hoạch phong thủy là phải xác định hướng cho một khu vườn: “Người Huế quan niệm, sơn hướng hay địa thế, là vị trí của cả cuộc đất mà trên đó sẽ dựng cơ nghiệp lâu dài nên nhất thiết phải xem sông ngòi, đường sá, để biết thủy tụ nơi nào, hướng gió lợi hại ra sao”. Sơn hướng gồm 24 phần và phải dùng thiên can, địa chi và bát quái để xác định. Các nhà phong thủy học lưu ý cần phải phối hợp với cửu cung để biết sự xoay chuyển của vận khí và phù hợp với bản mệnh của chủ nhà.
Tiếp theo là xác định vị trí của ngôi nhà, được nhắm tùy theo từng cách lý giải khác nhau. Như người thì chọn trạch chủ, người thì lấy từ trung tâm ngôi nhà tính ra theo cách hình học. Người lấy hiên nhà làm chính dựa vào câu “khai môn phóng thủy” trong khoa địa lý. Và có ngươi dựa vào mục tiêu của chủ nhân để “đưa nhà sang trái hay phải, lấn về trước hay lùi về sau – đây là phép tắc dựa vào địa thế và ngũ hành”. Nói chung người ta có xu hướng thích quay mặt nhà về hướng nam: “lấy vợ hiền hòa làm nhà hướng nam”.
The Mieu - HueLăng vua Khải Định và kinh thành Huế  xứng đáng với biệt danh “thành phố nhà vườn” mang đậm yếu tố phong thủy
Giai đoạn thứ ba trong quy hoạch phong thủy là cần xác định những cấu trúc phụ xung quanh ngôi nhà như bình phong, non bộ, hồ nước mà các nhà chuyên môn cho rằng sẽ ngăn chặn những điều bất lợi có thể đến với chủ nhân cùng gia quyến: “Như bức bình phong, người thì quan niệm sử dụng để tránh lối đi thẳng vào nhà (nhất là nhà thờ vì như vậy không đúng lễ ngày xưa), người thì cho rằng tránh được trực xạ vào nhà, người thì bảo tránh dẫn hỏa vào nhà, người dùng ngũ hành lại nghĩ rằng đó là cách tạo một hành trung gian để tùy cơ mà điều tiết (như cần làm vượng hỏa lên thì làm bằng hàng cây – thuộc mộc – để kích hỏa lên; cần làm giảm bớt hỏa khí thì bình phong làm bằng đất đá – thuộc thổ – để khắc bớt hỏa )… Các thầy địa lý còn hướng dẫn để chủ nhân xem xét nơi đào hoặc đặt hồ nước để “tụ thủy tích phúc” – mà nhiều người quan niệm phải đặt trước nhà làm nơi ngăn cản luồng “hỏa khí” nóng bức không tốt từ ngoài có thể xâm nhập vào nhà. Một số các yếu tố phong thủy khác thường được chú ý, trong đó có việc đặt các tảng đá lớn, các hòn giả sơn, hoặc hòn non bộ sao cho hợp lý. Việc đặt các dạng đá như vậy là nhằm tạo sự cân bằng cho ngôi nhà mình sẽ ở “như nhà nặng về mặt đông thì cần có những non bộ hoặc đá tảng lớn ở mặt tây để tạo cân bằng”. Nhưng cũng có người cho mục đích đặt đá nhằm ngăn chặn những tương khắc tồn tại quanh nhà “để cản những vật bên ngoài như góc nhà người khác, trụ điện, cây to… bắn khí vào nhà”. Việc chọn đúng vị trí để đặt các cấu trúc nói trên còn có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến các phần của ngôi nhà, vì “tác động vào chúng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến chủ nhân và các thành viên trong gia đình. Sách địa lý có câu: “Phá tiền đường hại gia trưởng”.
Mà đứng đầu phần đất ra vào tiền đường là chiếc cổng chính của vườn – có ảnh hưởng quan trọng nhất đến khu nhà vườn. Vì thế các thầy địa lý đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau trong việc  xác định vị trí cho chiếc cổng. Chẳng hạn cổng trổ theo cung hợp với mệnh của chủ nhân, như chủ hợp với cung Ly thì trổ cửa về hướng nam. Hoặc dựa vào ngũ hành để điều tiết vị trí dẫn khí vào nhà. Hoặc “phối hợp giữa môn (cổng) hoặc hộ (cửa) theo câu “Môn đăng hộ đối” – đây là quan điểm phổ biến nhất”. Nếu chủ nhân của ngôi nhà nào khó sửa được hướng cố định nhưng hướng nhìn ra sông, ra đường “cần sửa cửa để làm lệch hướng cổng- lại có thể chuyển cửa lên tầng gác nếu tầng dưới không sử dụng để sinh sống”.
Ngoài cổng chính, theo các nhà phong thủy cũng cần mở cổng hậu phía sau để “lấy khí từ mặt sau nhà hoặc để thủy khí có nơi thoát”. Mặt khác người ta quan niệm phần sau nhà là “biểu tượng cho con cháu (tử tôn) nên vị trí của cổng hậu cũng phải theo hướng phù hợp chủ nhân, hoặc phù hợp ngũ hành – trong dân gian vùng Huế cũng thường có quan niệm làm nhà cho có phần hậu”. Còn nhiều điều khác như chọn loại cây trồng, chọn cách kết cấu nhà và phương pháp đo đạc các bộ phận kiến trúc nữa liên quan đến bí quyết “phong thủy nhà vườn Huế”vốn có nền móng tạo tác dưới thời các vua chúa nhà Nguyễn với mốc cuối cùng vào thời Khải Định và Bảo Đại sẽ viết rõ phần sau.
Theo Tạp chí Duyên Dáng Việt Nam – Bài: Giao Hưởng – Ảnh: TyArt, Tư liệu

“Gò đất kết” Sơn Quy với chuyện hai bà hoàng

Thật thiếu sót nếu không nhắc đến phong thủy ở vùng đất Gò Công – nơi sinh ra hai người đẹp nổi danh nhất của vương triều Nguyễn là hoàng thái hậu Từ Dụ và hoàng hậu Nam Phương – với câu chuyện còn lưu truyền đến nay về “gò đất kết” Sơn Quy…
Sơn Quy là tên do nhà Nguyễn đặt cho một cái gò có hình dạng như chiếc mai con rùa nổi lên trên đất Gò Công thuở xưa, ở địa phận huyện Tân Hòa, nay thuộc tỉnh Tiền Giang. Dân chúng quen gọi cuộc đất Sơn Quy ấy bằng hai tiếng bình dị dễ nhớ là Gò Rùa.
Điểm lành tuôn nước ngọt ngào
Gò này gắn liền với câu chuyện phong thủy liên quan đến gia thế và cuộc sống đức độ của một bậc mẫu nghi thiên hạ là hoàng thái hậu Từ Dụ (vợ vua Thiệu Trị và là mẹ của vua Tự Đức). Tương truyền sau ngày bà ra đời vào năm Gia Long thứ 8 (1810) nước ở Gò Rùa bỗng trở nên ngọt hơn so với nước thường bị mặn quanh vùng. Dân chúng đồn đãi rồi rủ nhau đến đó múc gánh về dùng và lấy làm lạ về thứ nước ngày càng ngọt, uống vào thấy khỏe ra. Cây cỏ quanh gò cũng trở nên tươi tốt hơn lên và đơm  hoa trổ trái bất thường. Vì cớ đó đã truyền đi trong dân gian câu ca: Điềm lành tuôn nước ngọt ngào – Lại thêm phước đức vun cao Gò Rùa (Lệ thủy trình tường thoại – Quy khâu trúc phước cơ). Vậy đó là điềm gì? Và phước đức của ai?
Người quanh vùng để tâm hỏi han như trên và được các kỳ lão giải thích đại khái mỗi lần vùng đất nào có đổi thay về khí sắc nước nôi như vậy ắt đã có một nhân vật kỳ đặc nào đấy vừa xuất sinh ở đó. Mà ở Gò Rùa thì nhà danh giá phải kể đến vợ chồng cụ thượng thư Phạm Đăng Hưng. Theo một số tài liệu, dòng họ Phạm Đăng ở Gò Công vốn từ ngoài Trung đã theo dòng người Việt đổ về phía Nam khai phá vào khoảng thế kỷ 17. Trong những vị đi tiên phong đến vùng đất  mới có cụ Phạm Đăng Xương – một nhà nho uy tín đương thời – người gốc ở vùng Phú Xuân, huyện Hương Trà (Thừa Thiên – Huế ngày nay) đã “dẫn cả gia đình vào định cư ở Gò Rùa (giồng Sơn Quy – Gò Công), tại đây cụ chiêu mộ dân chúng khai phá đất hoang, mở mang sản xuất, khiến nơi này ngày càng thịnh vượng” (1).
Lang mo Pham Dang Hung_resize

Lăng mộ cụ Phạm Đăng Hưng nằmg trong di tích quốc gia Lăng Hoàng Gia
Song song với việc ổn định cuộc sống ban đầu ấy, cụ Phạm Đăng Xương đã thâu nhận rất nhiều môn sinh trong vùng để dạy học tạo nên thế hệ trí thức đầu tiên quanh “đất kết” Gò Rùa. Mọi người tôn kính gọi cụ là “Kiến Hòa tiên sinh”. Con trai của cụ là Phạm Đăng Long nối bước làm nghề dạy học. Từ đó trải nhiều đời về sau, họ Phạm Đăng trở thành dòng họ kỳ cựu trên đất Gò Công, với những ngôi mộ cổ táng ở Gò Rùa mà các thầy địa lý thời ấy đã chỉ. Trong số các ngôi mộ đó có một ngôi đặc biệt đã được chôn ở vị trí đại cát và thoáng đãng nhất trên gò. Đến đời thượng thư Phạm Đăng Hưng (ông ngoại vua Tự Đức), đã nhờ các thầy địa lý đến gò Sơn Quy để thẩm định một lần nữa thế đất phong thủy mà các đời trước đã chọn để chôn cất người quá vãng. Các thầy địa lý quả quyết gò Sơn Quy là một gò đất tốt, sẽ mang lại hưng vượng cho con cháu của những người nằm dưới mộ. Tuy nhiên phía sau gò Sơn Quy bị trống trải, không có được một dãy đồi ôm che, thiếu hậu chẩm. Thêm nữa bên phải và bên trái cuộc đất Sơn Quy thiếu các dãy đồi từ xa “triều về” nên cái thế “tả hữu phú chi” không có. Nghĩa là sự hưng vượng chỉ phát lên mạnh mẽ một đời rồi ngưng lại chứ không “truyền đời” cho các chi nhánh về sau được. Một điều nữa, theo các thầy địa lý đương thời đã dựa theo cuộc đất ở gò Sơn Quy thì họ Phạm phát mạnh về phái nữ (âm thịnh) và chỉ thịnh thời trẻ đến trung niên mà thôi, hậu vận sẽ gặp phải không ít trắc trở và buồn lo. Điều đó ứng vào người con gái cụ thượng thư Phạm Đăng Hưng tức cô Phạm Thị Hằng (hoàng thái hậu Từ Dụ) ra sao, chúng ta có thể tham khảo và kiểm chứng qua vài nét chính đã xảy ra trong đời của bà dưới đây.
Nha tho Duc Quoc Cong-Pham Dang Hung_resize
Đức Quốc Công Tự Gò Công nằm trong di tích Lăng Hoàng Gia
Hoàng hậu duy nhất sống quan 10 đời vua
Theo đoán định về thế đất Gò Rùa như trên, thì hoàng thái hậu Từ Dụ sẽ lên đến tuyệt đỉnh phú quý vào thời thanh xuân. Từ năm 12 tuổi bà đã nổi tiếng là người con có hiếu. Khi mẹ bà bệnh nặng bà đã kề cận bên giường săn sóc từng miếng cơm hớp nước, đến phút cuối khi mẹ qua đời bà đã kêu khóc ngày đêm không dứt. Nghe tiếng bà là người con hiếu để và đoan trang hiền thục nên lúc bà 14 tuổi đã được Thuận Thiên Cao hoàng hậu (vợ vua Gia Long) tuyển bà rời Gò Công ra kinh thành Huế để vào cung hầu hoàng trưởng tử Miên Tông (tức vua Thiệu Trị về sau). Vua Thiệu Trị lên ngôi được 3 năm đã tấn phong bà làm Quý phi (1846). Năm sau (1847) trước khi qua đời, vua Thiệu Trị bảo các quan trong triều rằng Quý phi (Phạm Thị Hằng) là người vợ đầu của vua (nguyên phối) đã có công “giúp trẫm suốt 7 năm trong công việc nội chính, vì thế trẫm đã có ý muốn lập Quý phi làm hoàng hậu nhưng tiếc thay không còn kịp nữa”. Thiệu Trị mất, vua Tự Đức nối ngôi (1848) liền sai triều thần bưng kim sách và kim bảo đến dâng bà để tôn hiệu Hoàng thái hậu. Bà là người nhân từ, ai có lỗi bà ôn tồn chỉ bảo, thậm chí nhận thay lỗi cho người ấy. Sử sách triều Nguyễn và các tài liệu liên quan đều ca ngợi đức độ của bà: “Sống trong lầu vàng điện ngọc nhưng bà Từ Dụ rất cần kiệm – thấy vua Tự Đức (con của mình) trần thiết (bày biện) những đồ vật quý giá trong cung Diên Thọ cho mình, bà không bằng lòng bảo vua: những thứ này đều do trăm họ dâng nộp, mình không làm đặng sự chi lợi ích cho nước thì thôi, sao dám vọng phi (lạm dụng)?. Vua Tự Đức phải đem cất hết những đồ đạc quý giá ấy vào kho” (2).
HoangthaihauTuDu_resize
 Sống trên đỉnh cao nhất của quyền quý nhưng rốt cuộc bà lại không được vui vì con trai duy nhất của bà (là vua Tự Đức) đã chết trước bà – mà lại không có người nối dõi. Tiếp đó là quân Pháp tràn vào với một loạt bi kịch trong nội bộ hoàng tộc, kẻ bị giam đói chết, người bị lưu đày xa xứ. Tuy vẫn còn ngồi trên ngôi cao nhưng thực chất quyền hành đều nằm trong vòng chi phối của ngoại bang. Trong giai đoạn chua xót đó của lịch sử nước nhà, cũng là những tháng ngày cay đắng suy tàn dần của vương triều Nguyễn, thì ở xa xa về phía Nam cây cối ở Gò Rùa đang xanh tươi đột nhiên héo tàn dần rất rõ nét vào năm 1859 (Kỷ Mùi). Lạ thay, nước giếng ngọt ngày nào năm đó bỗng trở mặn liên tiếp trong gần một tuần. Và rồi trong tuổi về già, với biết bao biến cố buồn thương dồn dập, hoàng thái hậu Từ Dụ mắt bị mờ và tai bị điếc. Bà qua đời năm 1901, thọ 92 tuổi, để lại một tấm gương sáng về lòng từ ái thương người và mẫu mực đức độ nên tên của bà ngày nay đã được dùng để đặt tên cho một bệnh viện phụ sản nổi danh ở Việt Nam là Bệnh viện Từ Dũ tại TP. Hồ Chí Minh.
Như vậy, bà Từ Dụ là hoàng hậu duy nhất trong lịch sử vương triều Việt Nam đã sống qua 10 đời vua, kể từ lúc bà sinh ra thời vua Gia Long, vào cung thời vua Minh Mạng, làm vợ vua Thiệu Trị, là mẹ vua Tự Đức, trở thành hoàng thái hậu chứng kiến bi kịch triền miên của các triều Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh và Thành Thái. Bà sống thời thanh xuân rực nắng và thời trung niên cũng như về già hiu hắt phai màu như cỏ cây úa vàng dần trên “gò đất kết” Sơn Quy thuở nào.
Cũng tương tự như bà, sau này hoàng hậu Nam Phương – vợ vua Bảo Đại, cũng sinh ra tại đất “địa linh nhân kiệt” Gò Công – Tiền Giang, cũng sống thời huy hoàng lúc trưởng thành, để rồi rơi vào cảnh cô đơn lúc cuối đời. Điều đó rất rõ ràng khi ta liên tưởng đến đám cưới của hoàng hậu Nam Phương rộn rịp thuở nào trái hẳn với cảnh Nam Phương sống một mình nơi xứ người và phải nhận những tin tức về mối giao du của cựu hoàng Bảo Đại với những người tình mới nhất của ngài mà chúng tôi sẽ đề cập ở kỳ sau.
NamPhuong 4_resize
Nam Phương Hoàng Hậu 
 (1) Nguyễn Phúc Nghiệp – Nam Bộ xưa và nay (nhiều tác giả), Tạp chí Xưa và Nay, NXB TP. HCM, 1998, trang 340.
(2) Nguyễn Viết Kế – Kể chuyện các đời vua nhà Nguyễn, NXB Đà Nẵng 2001.
Theo Tạp chí Duyên Dáng Việt Nam – Bài: Giao Hưởng – Ảnh: Tư liệu

Cung An Định và nỗi lòng hoàng hậu Nam Phương

Cung An Định xây năm 1902 bên bờ sông An Cựu – một con sông chứa nhiều “cổ tích buồn” trong chuyện đời của hoàng hậu Nam Phương…
 Phong thủy với màu nước sông Hương và sông An Cựu
Sông An Cựu dài hơn 30km, là một chi lưu nổi danh của sông Hương, đã mang theo dòng chảy của mình những tố chất “di truyền” về tâm cảnh lẫn màu nước từ dòng sông mẹ. Vì thế cần nói về sông Hương trước.
Tính từ nguồn ra biển, sông Hương chỉ dài khoảng 100km, nhưng “kích thước lịch sử” của con sông này lại lớn hơn rất nhiều lần con số ấy – bởi các biến cố trọng đại xảy ra ở đôi bờ. Về vị trí phong thủy, sông Hương được chọn làm Minh đường của kinh thành Huế, là nơi “trăm dòng hợp phái, vạn nhánh qui về” (bách xuyên hợp phái – vạn hác triều tông) như vua Thiệu Trị ca ngợi. Có thể tham khảo thêm sách địa lý Tả Ao: “Trường thủy sở dẫn, trường sơn sở tòng, chân thị đại quý chi địa” (nước dài dẫn lối, núi dài chạy theo, thực là đất đại quý). Cao Trung luận:
“Khi nước chảy chiều nào thì sơn mạch đi chiều đó nên gọi là nước dài dẫn lối. Đó là điều kiện nước tốt. Nếu có “dãy núi dài dài” đi theo “nước dài” nữa là điều kiện tốt thứ hai. Nếu huyệt kết ở “núi dài” theo “sông dài” và “sông dài dẫn núi dài” thì chắc là cho huyệt kết lớn. Trái lại chỉ có một dòng nước nhỏ dẫn lối và một chi sơn nhỏ đi theo thì chỉ là tiểu địa”. Đã có những cuộc đất “đại quý” được các nhà địa lý chọn xây lăng mộ cho các vua Nguyễn.
Cũng có ngọn đồi thiêng của vương triều như đồi Hà Khê, hoặc núi Ngọc Trản bên dòng (đã viết ở các kỳ trước). Ngay cả màu nước sông Hương cũng được Quốc sử quán triều Nguyễn chép đến: “Hồi đầu quốc triều ta, nước sông Hương đã chuyển sang màu đỏ và đục ngầu trong biến cố năm Giáp Ngọ 1774” – là năm tướng Hoàng Ngũ Phúc từ phía Bắc kéo quân Trịnh tràn vào đánh chiếm Thuận Hóa, đẩy chúa Nguyễn chạy lánh về đất phương Nam. Rồi cũng dòng Hương giang ấy lại xanh trong tuyệt vời vào “mùa hè năm Tân Dậu 1801 lúc đại binh (của chúa Nguyễn Phước Ánh) tái chiếm lại thành đô – thiên hạ đều cho nước sông đổi màu là điềm thái bình vậy” (Đại Nam nhất thống chí).
Nguoc dong Huong Giang-photo Truong Vung_resize
Sông Hương
Trên đoạn chảy qua khu vực kinh thành về phía hữu ngạn (bờ nam sông Hương) có sông An Cựu, được hình thành sau những chuyến vua Gia Long xa giá đến vùng Thanh Thủy xem xét địa thế, đoán định về phong thủy và triệu các vị phụ lão địa phương đến hỏi việc lợi hại khi đào sông mới. Ai nấy đều đồng tình. Vua sai đào sông dẫn nước tưới cho hàng ngàn vạn mẫu ruộng đất bị ngập mặn năm 1814 (Gia Long thứ 13) và làm đập ngăn nước mặn ở cửa Thần Phù.
Nhờ đấy vùng đất nam sông Hương khởi sắc, thuận lợi cho việc gieo cấy, trồng trọt. Chính vì kết quả lợi lạc ấy nên sau này vua Minh Mạng đặt tên sông là Lợi Nông và sai khắc hình ảnh của sông vào Cửu đỉnh (Chương đỉnh). Tuy vậy dân chúng kinh thành Huế vẫn quen gọi tên cũ của sông là An Cựu.
Cung An Định nằm bên bờ sông An Cựu ấy – một con “sông con” của Hương Giang với màu nước có “một chút gì trúc trắc”, tựa những mối tình chợt đổi màu theo nắng mưa, mà ca dao ghi lại: núi Ngự Bình trước tròn sau méo – Sông An Cựu nắng đục mưa trong – Vì thầy mẹ bên anh lắng đục tìm trong – Nên duyên chàng nợ thiếp cứ long đong rứa hoài… Được xây bên một dòng sông như thế, nên cung An Định dường như cũng “đẫm buồn” theo – và là nơi hoàng hậu Nam Phương đã rơi nhiều nước mắt.
Nước mắt của hoàng hậu Nam Phương 
Người chứng kiến những giọt lệ đầu tiên của Nam Phương ở đó là ông Phạm Khắc Hòe (1) lược kể dưới đây. Nguyên sau ngày đọc Chiếu thoái vị vào trưa 30.8.1945, cựu hoàng Bảo Đại nhận được công điện từ Hà Nội gởi vào mời ông làm cố vấn tối cao cho chính phủ của cụ Hồ Chí Minh, ông nhận lời và sắp xếp ra Hà Nội.
Vào 6 giờ sáng 2.9, ông Phạm Khắc Hòe cùng Bộ trưởng Lê Văn Hiến đến cung An Định “xe chúng tôi đã vào đậu ngay trước phòng khách mà trong cung vẫn tối mò mò, im phăng phắc – chỉ nghe có tiếng gõ mõ niệm Phật từ trên lầu vọng xuống”. Lát sau hoàng hậu Nam Phương trong sắc phục màu xanh da trời, từ trong nhà đi ra cùng con trai là Bảo Long và ba con gái là Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung, cựu hoàng Bảo Đại “tới hôn vợ, hôn các con với những lời âu yếm bằng tiếng Pháp, đây là lần đầu tiên trong đời mình, ông Vĩnh Thụy đi xa mà không ai tiễn đưa ngoài vợ con”.
Nam Phương với sắc mặt buồn “đưa tay trái lên cổ sửa lại sợi dây vàng đeo thánh giá lấp trong áo, tay phải cầm mùi xoa lau nước mắt” trong tiếng mõ tụng kinh của bà Từ Cung (mẹ Bảo Đại) từ “trên lầu vọng xuống đều đều buồn bã”. Cựu hoàng “khóe mắt hơi ướt, nhưng miệng vẫn mỉm cười, bế Phương Dung lên hôn một lần nữa, rồi bỗng nói to: Thôi đi!”. Bà Nam Phương mở to mắt “nhìn theo như muốn níu ông chồng lại, nhưng ông này không quay lại”…
 Nam Phuong hoang hau
Nam Phương hoàng hậu
Ra đến Hà Nội, cựu hoàng ở tại biệt thự dành riêng cho cố vấn chính phủ số 51 đại lộ Gambetta, tức số 51 Trần Hưng Đạo sau này. Chính ở đó, khoảng 10 ngày sau, khi ông Phạm Khắc Hòe đến thăm vào một đêm trăng đẹp, bỗng thấy “trên đầu cầu thang có một người đàn bà đang bước rất nhanh”.
Ông chạy theo, nhưng lên đến gác thì “chỉ còn phảng phất mùi nước hoa” của vũ nữ Lý Lệ Hà. Những lần sau cũng vậy, mỗi khi ghé lại biệt thự của cựu hoàng, lần nào ông Hòe cũng gặp những người hào nhoáng đi ra đi vào trong phòng khách và từ trong đó vọng ra “tiếng mạt chược lọc cọc, tiếng cười nói ầm ĩ, có cả tiếng đàn bà” nữa.
Vào một buổi trời vừa sập tối, bất ngờ Bảo Đại tự lái xe đến chỗ ở của ông Hòe nói: “Hôm ra đi, tui chỉ mang theo có một nghìn bạc, nay tiêu hết cả rồi. Tui muốn nhờ ông về Huế đưa cái thư này cho “ngài hoàng” (tức hoàng hậu Nam Phương) lấy một ít tiền đưa ra cho tui”. Cầm thư về Huế, ông Hòe đến trước cung An Định vào 8 giờ rưỡi sáng mà “tòa nhà này vẫn không có một cánh cửa nào mở, sân ngập lá rụng, tường mốc rêu xanh, tôi bấm chuông và lên tiếng gọi mấy lần, trong nhà vẫn im phăng phắc, không ai trả lời”.
Định quay về, ông chợt thấy hoàng hậu Nam Phương từ phía Bến Ngự xuống…Vào phòng khách, bà Nam Phương mở bức thư viết bằng chữ Pháp trên ba trang giấy màu xanh ra xem. Xong, bà ngẩng đầu lên “nhìn tôi với hai giọt nước trong suốt trong đôi mắt – môi bà run run như muốn nói một điều gì (…) bà đứng vụt dậy trào nước mắt ra”…
Chiều hôm sau, ông Hòe quay lại cung An Định lúc 16 giờ, bà Nam Phương đã có mặt chờ sẵn ở phòng khách với “bộ mặt buồn thiu, nhưng vẫn cố làm ra vẻ bình tĩnh” – để rồi vào câu chuyện ngay sau đôi lời hỏi han: “Tôi muốn ông cho biết tất cả sự thật về việc ông Vĩnh Thụy mê con Lý”. Ông Hòe trả lời rất tiếc là mình không biết rõ chuyện ấy, chỉ nghe người ta nói cựu hoàng “có mèo tên là cô Lý”. Bà Nam Phương chăm chú hỏi:
“Ông có biết con Lý nhiều không? Và con ấy người như thế nào?”. Ông Hòe đáp chưa thấy mặt bao giờ, song nghe đồn cô ấy đẹp. Tiếng “đẹp” làm hoàng hậu “đỏ mặt lên ngay”. Qua các lần gặp gỡ ấy, ông Hòe nhận định: “tôi thấy bà biết rất rõ mọi mặt sinh hoạt của ông Vĩnh Thụy (cựu hoàng) ở Hà Nội – điều ấy bà Vĩnh Thụy (Nam Phương) chỉ có thể đạt được qua một mạng lưới săn tin và thông tin thành thạo và trung thành với bà ta. Tất nhiên, những tin tức càng cụ thể bao nhiêu, càng làm cho bà ta đau khổ, uất ức bấy nhiêu”.
Trong lần gặp tiếp theo, Nam Phương đã rút hai tờ bạc ngân hàng Đông Dương loại 500 đồng giơ lên cho ông Hòe thấy rồi “bỏ trở lại vào giữa những tờ giấy màu hồng đặc sệt chữ Pháp dán lại” đưa cho ông Hòe. Chẳng biết hoàng hậu viết gì trong thư ấy. Thư đến tay cựu hoàng, thì ngày 16.3.1946 (khoảng 6 tháng sau khi ra Hà Nội), cựu hoàng sang Trung Quốc, sau đó qua Hồng Kông cùng người đẹp Lý Lệ Hà – để lại hoàng hậu Nam Phương với nỗi lòng chua xót ở cung An Định xa vời…
Đức Từ Cung,Bảo Đại,Nam Phương,Hoang Tu Bao Long_resize
Hoàng hậu Nam Phương, hoàng tử Bảo Long, Đức Từ Cung thái hậu, vua Bảo Đại
Biết rõ mối quan hệ thắm thiết của chồng mình với cô Lý, hoàng hậu với tư thế của một “người chị” đã viết một bức thư gởi “em Hà” mà hơn 50 năm sau Lý Lệ Hà vẫn còn giữ, như sau: “Em Lý Lệ Hà thân quý. Chị ở xa đức cựu hoàng hàng mấy vạn dặm trùng dương, nhưng chị biết rằng em đang hết lòng hết sức chăm sóc cựu hoàng ở Hồng Kông. Chị cầu mong lịch sử mai đây không buông rơi cựu hoàng, còn gặp lại nhau. Đức Từ Cung thái hậu và chị trọn kiếp nhớ ơn em. Chị Nam Phương”.
Bức thư trên được nhà văn Lý Nhân Phan Thứ Lang (Phan Kim Thịnh) trích dẫn từ hồi ức của Ngọc Giao (2) và in lại trong cuốn Bảo Đại – vua cuối cùng triều Nguyễn (NXB Đà Nẵng 2004). Còn Lý Lệ Hà đã nói gì về mối tình của mình với Cựu hoàng?
 Không một ông vua nào có tiền trong túi
Lý Lệ Hà kể: “Lão ta rất buồn (Lệ Hà lúc nào cũng gọi cựu hoàng Bảo Đại là “lão ta”). Lão ta chỉ thở dài, không nói năng gì hết. Ăn uống, cho gì nhận cả không hề kêu ca, nhăn nhó. Ngày ấy là 30 tết âm lịch. Lão ta, càng lì lợm, ra bao lơn (của biệt thự 51 Trần Hưng Đạo – Hà Nội) đứng nhìn xuống phố. Lão khẽ vỗ vai tôi: “Buồn lắm Hà ơi! Biết làm sao được bây giờ?” (…) Rồi Lý Lệ Hà kéo cựu hoàng đến đền Ngọc Sơn làm lễ giao thừa. Qua cầu Thê Húc chật nức người, vào tới trấn Ba Đình, cựu hoàng bảo Hà vào đốt một nắm hương đem ra, rồi trịnh trọng quay mặt về hướng Nam khấn lạy. Đến chân Bút Tháp thấy có ông thầy bói, chẳng biết mù thật hay mù giả, bảo hãy xem “cho lão”:
“Lão vua không chịu đưa bàn tay ra, sợ bẩn – mình phải nài ép, kéo bàn tay lão đặt vào tay ông thầy – ông mù này, vừa nắm bàn tay mềm nhũn như bông (của Cựu hoàng), giọng ông thều thào rất nhỏ: “Ngài là quý nhân – tôi không muốn nói gì hơn – chỉ xin thưa rằng ngài sắp đi xa, xa lắm”. Không lâu sau đó, cựu hoàng cùng Lý Lệ Hà đi xa thật, tới đất Hồng Kông giàu có mà hoàn cảnh lúc đó của hai người thật quá bi đát:
“bởi không có nhiều tiền nên lão và mình thuê  một khách sạn tồi tàn (…) có một đôi lần thấy lão quá buồn mình dắt lão vào cái bar nho nhỏ, loay hoay tìm một cái bàn tối tăm, kín đáo. Thế mà, chưa kịp ngồi, làm sao mà ban nhạc bar nhận ra cái bộ mặt rầu rĩ của ông vua xa nước.
Tức thì một bài “valse royale” (bài nhảy nghênh giá, theo phong tục phương Tây). Ban nhạc sống vô cùng trang trọng chơi bài đó, đồng thời ông chủ khách sạn bước ra cúi rạp đầu, cung nghinh vị phế vương (…) ngồi mấy phút, mình kéo lão rời phòng nhảy ra đường, mình toát mồ hôi lạnh, sốt ruột vì món tiền vừa phải xổ ra trả giá chai sâm banh thượng hạng và tiền thừa trên dĩa “đức Vua” rộng thưởng cho ban nhạc.
Đói quá, trong túi mình không còn lấy một xu, lão thì chẳng bao giờ có một tí tiền. Thì vào thời xưa cũng vậy, chưa có một ông vua nào có tiền trong túi. Nhưng khủng khiếp nhất là  phải nhịn đói, đội rét, bò được về tầng thứ 13 của khách sạn…” (3).
AnDinhResidence5_resize
 Cung An Định
Khi đó, hoàng hậu Nam Phương vẫn sống âm thầm ở cung An Định mà theo người đời tên gọi ấy thời mới khánh thành mang một ý nghĩa tốt đẹp, an vui, đại định – nhưng về sau người ta nhắc đến với ý nghĩa khác, thành nơi “an bài” theo “định mệnh” của hoàng hậu cuối cùng triều Nguyễn. Kể cả sau ngày ra nước ngoài, định mệnh vẫn buộc bà phải chứng kiến mối tình mới của chồng mình với một vũ nữ xinh đẹp – còn sâu đậm hơn cả Lý Lệ Hà năm xưa nữa…
Theo Tạp chí Duyên Dáng Việt Nam – Bài: Giao Hưởng – Ảnh: Trương Vững, Tư liệu

Lăng Ông Lê Văn Duyệt và vụ án Huỳnh Công Lý

Lăng Ông Lê Văn Duyệt không chỉ nằm trên khu đất tốt về phong thủy của vùng Gia Định xưa mà còn ghi dấu và nhắc nhớ những sự kiện bi tráng một thời trong lịch sử 315 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn – TP. HCM (1698 – 2013)…
Mộ Lê Văn Duyệt: “Tiên tích đức, hậu tầm long”…
Mộ Tả quân Lê Văn Duyệt gối đầu lên một gò cao có thế đất chạy thoai thoải từ hướng Bắc xuôi về phía Nam đến giáp cầu Bông (Q.Bình Thạnh) hiện nay. Thời ngôi mộ mới được lập cách đây hơn 180 năm (vào 1832), đó là gò đất “hình lưng Rùa” vắng vẻ thuộc làng Bình Hòa, tỉnh Gia Định, mà “theo khoa địa lý phương Đông, thuật phong thủy, đây là vị thế nằm ngay “long mạch” hợp với địa linh nhân kiệt, tài lộc đời đời và sẽ có ảnh hưởng tốt cho sự an lạc của cư dân trong vùng” (Một số cơ sở tín ngưỡng dân gian, nhiều tác giả, Sở VHTT TP. HCM ấn hành 2001). Nhiều tài liệu khác cũng ghi nhận cuộc đất trên với địa thế phong thủy tương tự, chẳng hạn Sơn Nam gọi: gò Kim Quy – nơi hội tụ tinh khí.
_D7N8098_resize
Ngày nay, chúng ta có thể tìm hiểu những điều nêu trên theo cách giải thích mới hơn về “long mạch”. Đại để long mạch là luồng “địa khí” (năng lượng trong lòng đất) có thể chạy ngầm từ xa đến và tụ lại để trào lên ở một nơi nào đó. Nơi ấy những nhà ứng dụng thuật phong thủy cần có những động thái chuyên môn để xác định. Trước hết họ phải dò “dấu vết và đường đi của địa long (long mạch)”, sau đó tìm “điểm ngưng tụ năng lượng” thường được gọi là chỗ “đầu rồng” để xây lăng mộ như trường hợp Lăng Ông Lê Văn Duyệt chẳng hạn.
Và nếu gọi năng lượng của địa khí bằng hình tượng “rồng” thì “nơi địa khí ngưng lại sẽ có linh khí ngưng tụ – chỗ đó chính là bộ phận đầu rồng – với đường kính của long huyệt khoảng từ 1 đến 2 mét – nơi có linh khí mạnh nhất đường kính cũng chỉ khoảng 20 đến 30 mét” (Nguyễn Hà – Chọn hướng nhà và bố cục nội thất theo thuật phong thủy, NXB Xây dựng – Hà nội 1996). Nhìn bao quát, “long huyệt” không được rộng. Tuy vậy, nếu năng lượng trào ra từ long huyệt “gặp được những điều kiện chung quanh tương đối (tốt) thì năng lượng đó sẽ khuếch tán” ra rộng hơn để đem lại lợi lạc cho những người sinh sống trong khu vực như người dân Bình Hòa trước kia đã từng tin tưởng Lăng Ông đem lại cho họ cuộc sống bình an.
Song, không chỉ tìm ra long huyệt là đủ, là có thể muốn an táng ai xuống nơi ấy cũng được. Kinh nghiệm cho thấy cần có đủ mối duyên lớn nhất do người xưa truyền lại gọn gàng trong 6 chữ: “Tiên tích đức, hậu tầm long” mới được – nghĩa là trước hết phải lo tu tạo phước đức, tích tụ điều lành, rồi sau mới ứng với long mạch. Theo hướng đó má xét, chúng ta thử nhắc lại vài điều liên quan đến đức độ của Tả quân Lê Văn Duyệt. Sinh thời, ông làm Tổng trấn Gia Định hai lần từ 1812 đến 1815 và từ 1820 cho đến năm qua đời trên đất Sài Gòn năm 1832. Trong 15 năm đó, ông thực hiện những chủ trương đúng đắn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ở Sài Gòn – Gia Định và vùng Nam bộ, củng cố an ninh quốc phòng phía Nam và mang  đến cuộc sống sung túc yên ổn cho dân chúng.
Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng nhận định: “Lê Văn Duyệt có công, bằng chứng là nhân gian ngưỡng mộ và kính trọng ông (…) Chúng ta đều biết, ở Nam bộ, trong khoảng thời gian dài và có lẽ cũng còn sót lại cho đến tận hôm nay một câu thề độc: “nếu tôi gian dối thì xin thề trước Lăng Ông tôi sẽ bị vặn họng như con gà tôi mang đến cúng Tả quân”(…) chúng ta nhận thức rằng sự tôn trọng kia liên quan chủ yếu đến công lao của ông đối với vùng đất mà ông trấn nhậm”. Mỗi đêm Giao thừa, hoặc đến ngày giỗ Ông vào 30.7 âm lịch hằng năm, ngót hàng vạn người khắp nơi trong nước, trong đó có rất nhiều bà con người Hoa đến cúng bái và xin xăm ở lăng. Người Hoa rất quý trọng Lê Văn Duyệt vì ông đã mở ra cho họ một cánh cửa rộng trong giao thương buôn bán tại Sài Gòn xưa, tiếp nhận cả người gốc Hoa vào hàng thân tộc của mình:
“xu thế xâm nhập vào tầng lớp quan lại như trường hợp thương nhân gốc Hải Nam Lưu Hằng Tín chủ động tới xin làm con nuôi Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt “Dinh tiền cúi lạy thưa lên – Xin làm nghị tử gá tình minh linh” (Bổn Bang thơ) rồi trở thành nhân viên trong Ty Hành nhân Gia Định thành còn cho thấy hệ thống hoạt động thương nghiệp của người Hoa đã thấm sâu hơn vào các thiết chế, quan hệ và hoạt động của xã hội Việt Nam ở địa phương, lan cả vào hệ thống sản xuất tinh thần lẫn hệ thống quản lý xã hội” (Cao Tự Thanh – Hoạt động thương nghiệp của người Hoa trong tiến trình lịch sử ở Nam Bộ trước 1862 -  xem: Nam bộ đất và người, nhiều tác giả – NXB Trẻ 2005).
Đối với người Âu Mỹ, ông có thái độ ngoại giao cởi mở, thông thoáng trong giao thương. John Crawfurd cầm đầu phái bộ Anh gồm 33 người đến thành Gia Định năm 1822 thuật lại trong nhật ký của mình về Tổng trấn Lê Văn Duyệt: “Ông có phong cách linh lợi và thông minh. Thân mình hơi thấp chứ không cao, song ông tỏ ra hoạt động và không có khuyết tật gì (…) các quan lại khác đều mặc đồ gấm hoa sang trọng, trái lại ông Tổng trấn tỏ ra ít quan tâm và coi thường việc ăn mặc, ông chỉ mặc một áo dài bằng nhiễu đen trơn màu và chiếc khăn đồng màu” (Nguyễn Đình Đầu dịch).
Khi ông qua đời, vua Minh Mạng lập đàn tế cúng rất lớn, nhưng vì sao 4 năm sau (1836) cũng chính Minh Mạng đã ghép ông vào nhiều tội và sai thi hành bản án khắc nghiệt, san bằng nấm mồ và lấy xích sắt xiềng long huyệt của ông?
Cong Tam Quan truoc 1975Cổng tam quan trước năm  1975
Vụ án Huỳnh Công Lý với công luận xưa và nay
Huỳnh Công Lý là cha ruột một người thiếp của vua Minh Mạng. Khi Lê Văn Duyệt được cử làm Tổng trấn Gia Định lần thứ hai vào năm 1820, thì Huỳnh Công Lý làm Phó tổng trấn bị tố cáo hơn 10 việc tham nhũng mà chính Minh Mạng cũng thừa nhận: “Huỳnh Công Lý làm Phó tổng trấn Gia Định đã bóc lột của dân đến trên 3 vạn” và nêu rõ tội trạng:
“Gia Định là nơi đất rộng, dân đông, cha ta (Gia Long) mưu tính… khôi phục cơ đồ… từ trước tới nay vẫn thận trọng lựa chọn những trọng thần công lao danh vọng sai trấn thủ cho muôn dân yên ổn. Không may có Huỳnh Công Lý lấy tư cách đê hèn, tham bạo, ăn trái pháp luật đến muôn vạn, bắt người làm việc riêng tốn hàng nghìn, mọt dân hại nước đến thế là cùng… Hồi Huỳnh Công Lý làm Tả thống chế (cấm binh)… ngày ngày bắt quân sĩ xây dựng nhà riêng trên bờ sông Hương, nay việc phát giác, hạ lệnh trị giá bán nhà ấy lấy tiền cho cấm binh”.
Những lời trên của Minh Mạng được ghi trong Đại Nam thực lục do Nguyễn Đình Đầu dẫn qua một bài viết về vụ án Huỳnh Công Lý. Tuy vậy, trong lòng vua Minh Mạng vẫn còn dành cho Huỳnh Công Lý một cách xử lý tương xứng với vị trí tình cảm là “cha vợ” của mình chăng? Điều ấy cụ Vương Hồng Sển từng giải thích:
“ông vua này có ý bênh vực cha vợ nên hạ chỉ giải Công Lý ra kinh đặng dễ bề tha tội. Tả quân biết trước, sẵn có trong tay Thượng phương kiếm được quyền “tiền trảm hậu tấu”, bèn chém đầu Huỳnh Công Lý, sai quân đóng thùng (…) gởi thủ cấp về kinh, trên nắp thùng viết mấy chữ: “Phụng thừa Thánh chỉ, xử trảm tội nhơn”. Minh Mạng thấy sự đã rồi, trong lòng căm giận nhưng không làm gì được Lê công. Sau (ngày Lê Văn Duyệt mất) Bố chánh Bạch Xuân Nguyên đem chuyện này ra kết tội khi quân cho Lê công và vu thêm nhiều tội lớn nữa. Vì vậy mới có giặc Phó vệ úy Khôi làm phản, giết Bạch Xuân Nguyên, chiếm cứ thành Sài Gòn cố thủ được ba năm” (Sài Gòn năm xưa)…
Vo dien Ta quan Le Van Duyet tai Lang Ong Ba Chieu_resize
Vở diễn Tả quân Lê Văn Duyệt tại Lăng Ông Bà Chiểu
Một tác giả khác, Trương Vĩnh Ký qua tác phẩm bằng tiếng Pháp: Ký ức lịch sử về Sài Gòn và vùng phụ cận, ấn bản năm 1885, Nguyễn Đình Đầu dịch 1997, đã viết đại ý Lê Văn Duyệt là người có linh cảm thiên ứng, Minh Mạng rất e ngại ông nhưng “không dám làm gì chống đối một quân nhân trung thành và can trường, từng là kẻ thừa hành di chiếu của vua cha, là người đỡ đầu và thầy dạy mình. Công lao vĩ đại đã làm ông trở thành hầu như bất khả xâm phạm. Minh Mạng vẫn giữ mối hận thù thầm kín và chưa bao giờ dám làm gì chống lại Lê Văn Duyệt khi ông còn sống, ông chết rồi – nhà vua hạ nhục bằng cách cho xiềng và đánh trên mộ 100 trượng”.
Trần Trọng Kim cũng ghi trong Việt Nam sử lược về lời luận tội của Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt qua một tờ dụ: “tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bổ quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu, và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả, không bõ gia hình. Vậy nay cho Tổng đốc Gia Định đến chỗ mả hắn, san làm đất phẳng và khắc đá dựng bia ở trên viết to những chữ: “chỗ này là nơi quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp” để chính tội danh”.
Từ đó, quanh khu mộ có nhiều điều linh dị được dân chúng Sài Gòn truyền miệng, Sơn Nam viết: “nơi phần mộ của Lê Văn Duyệt bị nhục mạ, trong dân gian đồn đãi rằng đêm đêm nghe tiếng quân kêu khóc, quỷ giận thần hờn, lạc ngựa reo vang”.
Khi Minh Mạng mất, vị vua kế vị là Thiệu Trị đã cho tháo gỡ xiềng xích trên đất mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt. Đến đời Tự Đức đã phục hồi danh dự, chức tước và cho đắp lại mộ như cũ. Dần dần mộ được xây vòng thành khá rộng và phần đất quanh vùng mộ ở làng Bình Hòa dành làm tự điền, thu hoạch lấy tiền cúng tế hàng năm. Đến nay, Lăng Ông Lê Văn Duyệt tọa lạc tại số 126 đường Đinh Tiên Hoàng, P.1, Q.Bình Thạnh, TP.HCM, giữa giao điểm của các đường: Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức, Vũ Tùng, rộng 18.500m2, với cổng Tam Quan một thời từng là biểu tượng văn hóa của Sài Gòn. Dân gian vẫn thờ cúng và tế lễ ông theo nghi thức thờ thần và tế thần vì từ lâu dân Sài Gòn – Gia Định đã xem ông như một vị thần. Điều ấy ứng với linh huyệt phong thủy “tài lộc đời đời” nơi ông yên nghỉ, dầu đã có những tháng năm bẽ bàng, hương tàn khói lạnh trên gò đất ấy…
Theo Tạp chí Duyên Dáng Việt Nam – Bài: Giao Hưởng – Ảnh: Nguyên Trương, Tư liệu

Những chuyện "trấn yểm" ly kỳ và khó lý giải ở Việt Nam

Những câu chuyện về cột đồng Mã Viện, trấn yểm của Cao Biền, trận đồ bát quái dưới lòng sông Tô Lịch, Nguyễn Văn Thiệu trấn yểm long mạch ở Sài Gòn, hay chuyện hòn đá ở Đền Hùng... là những chuyện ly kỳ mà khoa học và các nhà khoa học vẫn còn đang lý giải...
Cột đồng Mã Viện - âm mưu trấn yểm nước Việt?
Cột đồng Mã Viện, theo một số sử cũ, là một cây cột đồng lớn trên có khắc sáu chữ Hán: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" do viên chỉ huy quân đội nhà Hán là Mã Viện sai làm từ các dụng cụ bằng đồng thu được của người Việt và cho dựng sau khi chinh phục được cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng ở Giao Chỉ vào năm 43.
Theo nhà khảo cứu độc lập Thiên Đức, cột đồng này chính là một phần của trận đồ phong thủy được lập để diệt tận mọi mầm mống phản kháng ở nước ta.
Cụ thể, Mã Viện đã sử dụng một loại bùa rất hiếm hoi đề cập trong sách vở đó là loại bùa Lưỡng Nghi tức là bùa Âm Dương có hiệu lực cao hơn bùa bát quái hai bậc theo Kinh Dịch. Yếu tố Dương trong bùa yểm này là chiếc cột đồng, còn yếu tố Âm là Kiến Thành - tòa thành hình cái kén được Mã Viện cho xây ở Phong Khê.
 Cột đồng Mã Viện
Hình dáng Kiến Thành kết hợp với cột đồng Mã Viện tạo nên một đạo bùa mạnh nhằm trấn yểm không cho người đàn bà Giao Chỉ (mà thời nhà Hán gọi là yêu nữ) tiếp nối truyền thống anh hùng dân tộc. Nói theo kiểu dung tục thì Mã Viện đã chơi một trò rất thô bỉ là "đóng cọc” người đàn bà Giao Chỉ nhằm triệt tiêu con đường kết phát vương quyền cho nữ giới Việt Nam sau này.
Ngoài ra, câu "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" về bản chất là một câu thần phù hay một lời nguyền. Chữ “chiết” ở đây không có nghĩa là gãy mà có nghĩa là tách làm hai. Do đó, câu này nên giải thích là "trụ đồng tách huyệt (đế vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết", chứ không thể dịch là “trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết”. Chữ “huyệt” và chữ “vương” là hai chữ đã bị ẩn trong câu này.
Cao Biền và cuộc chiến bùa yểm ở nước Việt
Lịch sử Việt Nam đến nay vẫn còn lưu giữ rất nhiều giai thoại ly kỳ về hoạt động yểm bùa của Cao Biền - quan đô hộ nước ta thời Bắc thuộc.
Một giai thoại nổi tiếng kể rằng, khi sang Giao Châu, Cao Biền thấy long mạch nước Nam rất vượng, muốn phá đi, thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy đi khắp nơi để xem địa thế, hoặc giả tảng lập đàn cúng tế để lừa thần bản địa đến rồi dùng kiếm báu chém đầu, xong đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch. Một lần, khi Cao Biền cưỡi diều giấy bay đến đất Hoa Lư đã bị một đạo sĩ cùng dân chúng ở đây dùng tên bắn. Cao Biền trọng thương, diều gãy cánh rơi xuống một hòn núi, từ đó hòn núi mang tên là núi Cánh Diều.
Một buổi sớm khác, Biền ra đứng ở bờ sông Lô Giang, phía đông thành Đại La, thấy một trận gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trôi mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, chập chờn lên xuống trong khoảng không. Biền rất sợ, muốn yểm thần, đến đêm nằm mộng thấy thần tới nói rằng: “Chớ yểm ta, ta là tinh ở Long Đỗ, đứng đầu các địa linh. Ông xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi; ta có sợ gì bùa phép?”.
Biền lại khiếp đảm, sáng hôm sau lập đàn niệm chú, lấy kim đồng thiết phù để yểm. Đêm hôm ấy, sấm động ầm ầm, gió mưa dậm dật, đất trời u ám, thần tướng hò reo, kinh thiên động địa. Trong khoảnh khắc, kim đồng thiết phù bật ra khỏi đất, biến thành tro, bay tan trên không. Cao Biền càng kinh hãi, than rằng: “Xứ này có thần linh dị, ở lâu tất chuốc lấy tai vạ” và sau đó cho lập đền thờ ở ngay chỗ ấy và phong cho thần là thần Long Đỗ, chính là đến Bạch Mã ở phố cổ Hà Nội ngày nay.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng: khi sang nước Nam để yểm bùa và triệt hạ long mạch, Cao Biền có nuôi 100 âm binh. Đến nước Nam, Cao Biền ở trọ nhà một bà hàng nước và nhờ bà mỗi ngày thắp một nén hương, gọi dậy một âm binh. 100 ngày thắp đủ 100 nén hương sẽ gọi dậy được 100 âm binh. Bà lão nước Nam đã phá âm mưu của Cao Biền, giả vờ quên, thắp cả 100 nén hương trong một ngày. Kết quả là 100 âm binh của Cao Biền đã dậy đủ nhưng mà dậy non, thiếu ngày nên chẳng hiệu quả gì. Đây là nguồn gốc của câu thành ngữ “lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”.
Chuyện trấn yểm long mạch ở Sài Gòn trước 1975
Ở Sài Gòn trước năm 1975 có hai công trình hình bát giác được cho là biểu tượng phong thủy để trấn yểm long mạch, đó là hồ Con Rùa và khám Chí Hòa, với rất nhiều giai thoại mang màu sắc huyền bí, ly kỳ xung quanh.
Trại giam Khám Chí Hòa từ trên cao
Có giai thoại kể rằng, sau khi nhậm chức tổng thống, ông tổng thống nổi tiếng mê tín Nguyễn Văn Thiệu đã cho người mời thầy địa lý từ Hồng Kông sang Việt Nam để trấn yểm Dinh Độc Lập. Thầy này phán rằng Dinh Độc Lập được xây trên long mạch, trấn ngay vị trí đầu rồng. Đuôi rồng rơi vào vị trí Công trường Chiến sĩ trận vong. Cần phải dùng một con rùa lớn trấn yểm đuôi rồng lại thì sự nghiệp của tổng thống mới mong bền vững.
Nguyễn Văn Thiệu lập tức cho xây hồ nước theo hình bát giác, phỏng theo bát quái đồ, có 4 đường đi bộ xoắn ốc đều hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim đội bia đá. Khu vực trung tâm còn có một cột cao được xem như một chiếc đinh lớn đóng xuống giữa hồ để ghim đuôi rồng lại. Vào đầu năm 1976, tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ. Tuy con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen gọi là hồ Con Rùa, thay cho tên gọi chính thức.
Một giai thoại khác về hồ Con Rùa gắn liền với nguồn gốc xây Dinh Độc Lập, lấy núi giả trong Thảo Cầm Viên làm bình phong, sông Thị Nghè làm lưu thủy, tạo thế long chầu, hổ phục. Người Pháp biết điều này, liền cho xây nhà thờ Đức Bà mặt trước bên phải Dinh, hòng phá chữ. Do vậy mà sau này thổng thống Thiệu đã xây thêm hồ Con Rùa để phá thủy, làm nước phun lên.
Một kiến trúc khác được cho là biểu tượng phong thủy thứ hai của Sài Gòn là trại giam Chí Hòa, được người Pháp cho xây dựng từ năm 1943. Kiến trúc của Khám Chí Hoà rất đặc biệt, do một kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo ngũ hành bát quái. Nó cao ba tầng lầu có hình bát giác với 8 cạnh đều, 8 góc A, B, C, D, E, F, G, H, tượng trưng cho 8 quẻ trong Kinh dịch.
Một vài tài liệu nghiên cứu cho rằng, khám Chí Hòa được xây dựng dựa trên bát quái trận đồ của Khổng Minh. Ngay tâm của bát quái trận đồ cũng có một đài phun nước như cột cao của hồ Con Rùa, gọi là “tru tiên kiếm”, có tác dụng khiến những tên tội phạm dù có xảo quyệt, tinh ranh đến đâu cũng không thể trốn được. Nếu tru tiên kiếm bị nhổ lên thì toàn bộ bát quái trận đồ được thiết kế công phu sẽ tự vỡ.
Chính lối kiến trúc nhuốm màu sắc huyền linh này khiến người ta gọi lối vào duy nhất của khám Chí Hòa là cửa Tử. Nghĩa là đã vào rồi thì không có cách nào để nhận biết đường ra nếu không thông lý số, kinh dịch. Có lẽ đó là lý do mà lịch sử khám Chí Hòa chỉ có 2 trường hợp vượt ngục thành công.
Trận đồ bát quái của Cao Biền dưới lòng sông Tô Lịch?
Vào tháng 4.2007, báo Bảo vệ Pháp luật đã đăng một loạt bài về hiện tương “thánh vật ở sông Tô Lịch” gây xôn xao dư luận một thời gian dài.
Theo đó, vào tháng 9.2001, một đội thi công xây dựng do ông Nguyễn Hùng Cường làm đội trưởng, trong quá trình thi công kè bờ, nạo vét một đoạn sông Tô Lịch thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội đã tìm thấy một số di vật cổ, trong đó có tám bộ hài cốt bị đóng đinh vào bả vai, nhiều xương răng động vật (voi, ngựa, trâu), hơn mười cái liễn lớn nhỏ bằng sành, nhiều đồ gốm, đồ sắt, đồ dùng như bát đĩa, dao, liềm, kim khâu, một số mảnh gốm men ngọc đã bị vỡ được cho là thuộc đời nhà Trần và Lê Sơ, tiền cổ hình tròn có lỗ vuông. Tại khu vực này còn phát hiện thấy nhiều vật liệu xây dựng cổ xưa như ngói cổ, đá, nhiều gạch cổ, đặc biệt là gạch vồ thời nhà Lê. Quanh chỗ phát hiện hài cốt là các cọc gỗ lim đóng theo những hàng ngắn, bố trí lạ.
Công trình được dừng lại một thời gian để các nhà khoa học nghiên cứu. Giám đốc Bảo tàng Hà nội và các nhà khoa học được mời tới, trong đó có giáo sư Trần Quốc Vượng. Giáo sư Vượng cho rằng đây là trận đồ bát quái yểm trấn giữ cửa thành Đại La từ thế kỷ thứ 9.
Trong quá trình thi công, ông đã thuật lại những hiện tượng như: Các công nhân xây dựng gặp các hiện tượng như động kinh, mơ gặp ma, thân nhân của họ gặp nhiều chuyện bất hạnh liên tiếp, các công việc thi công không tiến triển được như đê đắp lên thì đê vỡ, kè thép không vỡ nhưng nước xói từ dưới lên, đặt đá xuống thì đá chìm, nhiều mũi khoan bị gãy nhanh khi khoan thăm dò ở giữa sông, một số người khác có liên quan đến các di chỉ và những người được mời tới làm lễ giải bị ốm nặng hoặc chết trong vòng một vài tháng…
Một số nhà khoa học, nghiên cứu lịch sử và các nhà nghiên cứu phong thủy Việt Nam khác cho rằng đây có thể là nơi trấn yểm của Cao Biền. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, câu chuyện “thánh vật ở sông Tô Lịch” là chỉ những thông tin thổi phống, sai lệch so với sự thật.
Đền Hùng bị đạo sĩ của quân Nguyên Mông trấn yểm?
Tháng 4.2013, dư luận đã xôn xao trước thông tin về một “hòn đá lạ” được đặt tại Đền Thượng (Đền Hùng, Phú Thọ) như một dạng bùa yểm không tốt.
Nhà nghiên cứu sử học Nguyễn Tiến Khôi, nguyên là Giám đốc Ban quản lý Khu di tích lịch sử Đền Hùng đã giải thích về “hòn đá trấn yểm” này trên báo Năng Lượng Mới như sau:
Khi tu sửa đền Hùng năm 2009, lúc tháo dỡ toàn bộ bệ thờ trên đền Thượng, cán bộ và công nhân đã phát hiện một viên gạch lạ có in chữ Hán. Nhiều nhà văn hóa cho rằng có thể là bùa yểm trong đó. Để phá thế yểm, Ban quản lý đã phải mời các pháp sư.
Cụ thể người trực tiếp tham gia làm việc này là ông Nguyễn Minh Thông (hiện nay đang là giám đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng văn hóa phương Đông). Một số nhà khoa học và ngoại cảm đã vào cuộc hội thảo nhiều lần, khẳng định viên gạch này có từ cuối thời Trần, do đạo sĩ của quân Nguyên Mông mang đến đặt.
 Hòn đá  được cho là một kiểu trấn yểm bằng bùa gạch
Thời đó, phía Nguyên Mông bị nhà Trần ta đánh tan ba lần, đã cử đạo sĩ được cải trang sang nước ta, dùng thủ đoạn yểm bùa gạch này tại đền Thượng. Trên viên gạch được ghi “Đánh đổ đức sáng Vua Hùng” (hiện còn lưu giữ tại bảo tàng Đền Hùng).
Hòn đá ở đền Hùng không phải có từ trước, mà được một người dân cung tiến, đưa về và đặt tại Đền Thượng từ năm 2009…
Theo ông Khôi, từ năm 2009 đến nay, hòn đá chắc chắn đã làm tốt nhiệm vụ của nó, với ý hóa giải bùa yểm phương Bắc, trấn trạch bình an, tạo năng lượng vũ trụ cho Đền Thượng khiến quốc gia được hưng thịnh, tốt đẹp.
Tuy nhiên, nhiều người đã phản bác ý kiến của ông Khôi, cho rằng hòn đá không có ý nghĩa gì về tâm linh.
Theo Kienthuc.net