Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Viếng chùa Pôthi Somrôn (Ô Môn) mùa Vu lan.

Khác với nhiều ngôi chùa khác, Pôthi Somrôn mang đậm tính cộng đồng. Chính điện và các tháp cốt được xây dựng trong một diện tích khiêm tốn. Không gian lớn còn lại được dành cho sinh hoạt chung, như chuẩn bị cho các lễ hội, các hoạt động về văn nghệ, thể thao giải trí…

< Chính điện khá khiêm tốn trong quần thể chùa Pôthi Somrôn.

Hoà trộn kiến trúc Khmer – Ấn Độ

Nằm ngay cạnh quốc lộ 91, chùa Pôthi Somrôn tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã bước sang tuổi 277.

< Bên trong chánh điện chùa.

Vào thế kỷ thứ 18, chùa Pôthi Somrôn lần đầu được dựng bằng cây lá, đến năm 1856, chùa được xây dựng lại bằng các loại gỗ quý như căm xe, thao lao, cà chít và lợp ngói hình vảy cá – ảnh hưởng hai nền văn hoá Khmer và Ấn Độ. Gần 100 năm sau, ngôi chùa xuống cấp, hoà thượng Thạch Khiêng lúc bấy giờ trụ trì đã sang Phnom Penh mời kiến trúc sư Campuchia vẽ bản thiết kế mới về sửa sang chùa trên cơ sở giữ lại kiến trúc truyền thống. Hoàn tất năm 1952, ngôi chùa được xây dựng bằng gạch đá duy trì đến ngày nay.

Có thể nhận ra, chánh điện là công trình nổi bật trong quần thể kiến trúc chùa Pôthi Somrôn. Chánh điện được xây cao, có hành lang rộng bốn phía, được cho là lối bố trí nhìn ra bốn hướng vũ trụ theo quan niệm của Ấn Ðộ giáo. Cửa chính quay hướng Đông vì người Khmer quan niệm Phật tuy ở Tây phương cực lạc, nhưng luôn hướng về Đông cứu độ chúng sinh.

Mái chánh điện có ba cấp chồng lên nhau, có hình rồng chạy dọc bờ mái, đuôi vươn thẳng lên trời. Bao bọc hành lang là các hàng cột với bốn cột gắn tượng chim thần Krud ngậm ngọc đan xen với các tiên nữ Kennâr. Các hoa văn kỷ hà và lục bình được chạm khắc tỉ mỉ trên tường, bậc thềm, chân cột, rào, khuôn cửa, nóc mái, vách tường tạo nên một Pôthi Somrôn độc đáo đậm bản sắc văn hoá Khmer.

< Tháp thờ xá lợi Phật.

Các chùa Khmer đều có các tháp cốt mà mỗi dòng họ trong cộng đồng xây dựng để lưu trữ tro người thân khi họ qua đời. Tuy nhiên, hiếm chùa nào còn lưu giữ ngôi tháp hơn 200 năm tuổi như Pôthi Somrôn. Tháp ở trước chánh điện, được xây bằng ô dước, đá ong, gạch thẻ từ thế kỷ 18, chứa hài cốt của nhiều phật tử, được gìn giữ qua nhiều đời. Chùa còn lưu giữ nhiều cổ vật như khoảng 100 bộ kinh Satra (sách lá), những cánh én bằng gỗ chạm trổ hình ảnh câu chuyện về Đức Phật Thích Ca từ năm 1856 và gần 20 tượng gỗ cũng từ thế kỷ 19 đến nay. Trải qua 13 đời hoà thượng trụ trì, trong chùa chỉ có di cốt của một, vì số còn lại đã hoàn tục trước khi viên tịch.

Ngôi nhà chung

< Tháp màu đen chứa hài cốt Phật tử được xây dựng cách nay hơn 200 năm bằng ô dước, đá ong, gạch.

Khác với những ngôi chùa theo phái Bắc tông, chùa Nam tông Pôthi Somrôn của người Khmer mang đậm tính cộng đồng, có không gian lớn dành cho sinh hoạt chung. Trai đường là khu nhà mà các tu sĩ trong chùa có thể dùng làm nơi ăn uống nhưng chức năng chính vẫn là để người dân có chỗ tụ tập sinh hoạt, thậm chí ngủ lại nếu ở nơi xa đến. Nhiều lúc, các tu sĩ tụng kinh trong chánh điện, nhưng người dân vẫn nhảy múa hát ca ngoài sân hoặc tại trai đường.

Chùa còn là nơi triển khai nhiều hoạt động xã hội, như vận động xây nhà tình thương cho đồng bào dân tộc Khmer, giúp sưu tầm các hiện vật quý... Không chỉ là thánh đường Phật pháp của đồng bào Khmer tại địa phương, nơi này cũng rất quen thuộc với người dân Tây Đô, khi nhiều sự kiện văn hoá, xã hội diễn ra, góp phần làm phong phú thêm đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Vị hoà thượng tại đây cho biết, trong những năm kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nơi đây từng đùm bọc, che chở nhiều thanh niên trốn quân dịch của chế độ cũ, cho họ tá túc và tu học thời gian dài.

< Cổng chùa mang nét đặc trưng của các ngôi chùa của đồng bào Khmer ở Nam bộ.

Đứng dưới gốc cây “vô ưu”, tương truyền được đem về từ Ấn Độ năm 1969 ở góc sân chùa, tôi cảm nhận một mùi hương thanh nhã nhẹ nhàng. “Phật tử Khmer coi mẹ và cha là quan trọng nhất, theo lời Đức Phật dạy. Vì vậy trong cuộc đời, con cái phải đối xử tốt và trả hiếu đấng sinh thành. Nam giới chúng tôi trước khi bước vào tuổi 21 sẽ dành thời gian vào chùa tu. Đó cũng là một cách báo hiếu cha mẹ của người Khmer”, một vị hoà thượng giải thích. Bước vào tháng 7 âm lịch, chùa đang có nhiều hoạt động cùng các Phật tử nhớ đến nhiệm vụ làm con của mình.

Đắm mình trong không khí trầm mặc khi đến chùa Pôthi Somrôn, khách có thời gian tĩnh lặng, vừa được chiêm ngắm kiến trúc độc đáo và cảm nhận cuộc sống gần gũi giữa nhà chùa với cộng đồng. Và tôi cũng cảm thấy chạnh lòng bởi tất cả các kiến trúc, chỉ còn lại một tháp đựng di cốt được giữ nguyên nét rêu phong của thời gian. Còn lại là màu vàng, màu đỏ… được phủ lên các công trình trong chùa làm bật vẻ sặc sỡ giữa một không gian xanh cạnh vàm Ô Môn, sau khi trùng tu và được chứng nhận là di tích cấp quốc gia.

Nguồn sưu tầm, Du lịch, GO!- Theo Kim Dung (SGTT).
Nguồn sưu tầm by Ngoan Trương Công

Ngôi miếu Nổi đặc biệt ở Sài Gòn

Miếu Nổi nằm giữa mênh mông sông nước trên sông Vàm Thuật, đoạn chảy qua quận 12 và quận Gò Vấp (TP.HCM). Có mặt ở cù lao này gần 3 thế kỷ, không ai biết chính xác miếu Nổi được dựng lên từ năm nào. Câu chuyện về miếu Nổi chỉ còn lại những giai thoại, mà những thế hệ ông bà từng sinh sống ở đây kể lại cho con cháu mình nghe.

Ngôi miếu hiếm có

Cách đây 300 năm, khu vực quận Gò Vấp và quận 12 bây giờ chỉ là những cánh đồng bao la chạy dài theo con sông Vàm Thuật (xưa gọi là Bến Cát). Nổi lên giữa sông là một cồn đất nhỏ hình bàn chân, có diện tích khoảng 2.500 mét vuông.

Lúc đầu cù lao này bỏ hoang, chỉ là khu đất với cây dại mọc um tùm như bất kỳ một nơi nào của Sài Gòn - Gia Định thuở ấy.

Không có sử sách nào ghi chép lại ngôi miếu được tạo dựng từ năm nào. Những người già sinh ra ở khu vực này cũng không biết chính xác năm nó ra đời. Tương truyền, vào thế kỷ 18, một người đàn ông chài lưới trên đoạn sông này đã chài phải xác chết của một người phụ nữ. Ông đem chôn cái xác lên cù lao này. Nhờ đó mà cuộc sống sông nước của ông khấm khá hơn.

Tiếng lành đồn xa, những ngư dân khác cũng theo nhau tới thắp hương, cầu phúc trước ngôi mộ mỗi đêm giăng lưới với hi vọng sẽ có nhiều tôm cá, thuyền ghe thuận lợi đi về. Dần dà, không chỉ những ngư dân chài lưới quanh khúc sông Vàm Thuật mà những chủ ghe thuyền buôn bán qua đây cũng nán lại thắp hương, dâng lễ.

Các cụ bô lão trong vùng bèn tập hợp con cháu, góp công của xây dựng ngôi miếu to hơn, đề phòng những lúc nước to, lũ lớn.

Một truyền thuyết khác lại kể rằng, cách đây gần hai trăm năm, một ngư phủ quăng lưới đánh cá trên dòng sông Bến Cát (thuộc xã Hạnh Thông, tổng Bình Trị Thượng huyện Gò Vấp, tỉnh Gia Định, nay thuộc TP.HCM) đã vớt được một pho tượng mà lúc ấy người ta cho rằng đó là tượng Bà Thủy Tề. Từ đó, ngôi miếu thờ Bà được dân chúng trong vùng lập nên trên cù lao bỏ hoang để cầu cho mưa thuận gió hòa, thuyền bè đi về bình an. Nhưng theo ông Lê Hữu Phước - thành viên Ban quản lý miếu Nổi thì ở cù lao miếu Nổi này không chôn xác ai cả. Ông chỉ nghe những người già kể lại rằng ngôi miếu được dựng từ thời vua Gia Long. Nghĩa là trong khoảng thế kỷ 18 hoặc đầu thế kỷ 19.

Trong thời kỳ này, giao thông đường thủy là loại giao thông rất phổ biến. Sông Vàm Cỏ là nơi qua lại thường xuyên của các loại tàu thuyền. Những nhà buôn người Hoa khi đi qua khúc sông, thường ghé nghỉ đêm lại trên cù lao bỏ hoang này.

Sau những lần như vậy, họ thường thấy những hiện tượng lạ xuất hiện vào những đêm ngủ tại đây. Vì vậy, các nhà buôn đường thủy đã cùng với các bô lão sống trong vùng lập nên một cái miếu, để cầu mong thuận buồm xuôi gió, thượng lộ bình an.

Ban đầu, chỉ là ngôi miếu nhỏ bằng tre và lá dừa. Theo thời gian, những nhà buôn ghé lại sửa sang mãi nên ngôi miếu cứ rộng ra thêm. Do địa hình khá đặc biệt, nên người dân thường gọi tên là miếu Nổi. Muốn qua miếu phải đi đò. Nhưng thực ra, miếu còn có một tên gọi khác do người Hoa đặt là miếu Phù Châu. Trước năm 1975, miếu là một điểm hành hương nổi tiếng của người dân Sài Gòn - Gia Định. Sau năm 1975, miếu gần như bị bỏ hoang, không người coi giữ và sửa sang.

Mãi cho đến năm 1989, một người Hoa tên Lục Câu sống tại địa phương đứng ra bỏ tiền và phát động mọi người sửa sang, khôi phục lại hoạt động của miếu. Ông Lục Câu, trưởng ban Quản lý miếu ngày nay, đã tự tay phác thảo và thực hiện tu sửa, đắp các hình tượng tại miếu. Đến nay, sau nhiều lần trùng tu, Phù Châu miếu đã trở thành một ngôi miếu khang trang, kiến trúc đặc sắc với nét văn hóa Việt - Hoa, là một trong những địa điểm tham quan, dâng hương của nhiều người.

Thế giới của rồng

Điều dễ dàng nhận thấy khi đến miếu Nổi là hình ảnh những con rồng. Có thể nói, miếu Nổi chính là một thế giới thu nhỏ của rồng vì trên miếu có hàng trăm con rồng ở rất nhiều các tư thế, kiểu dáng khác nhau.

Rồng hiện diện ở khắp nơi trong không gian của miếu Nổi. Ngay cổng vào là đôi rồng làm bằng đá cẩm thạch uốn lượn theo thế song long đồi đầu. Trên nóc mỗi toà nhà đều trang trí rồng chầu hạt ngọc, rồng chầu tháp Cửu phẩm, rồng chầu cuốn thư. Trên bốn đầu đao cong lên có gắn hình tượng Long, Ly, Quy, Phụng. Trong miếu, tám cây cột đều đắp nổi rồng uốn lượn ôm lấy thân cột.

Theo ông Lục Câu thì rồng được chọn làm con vật chủ đạo ở miếu, vì theo quan niệm của người Hoa thì Long, Ly, Quy, Phụng là bốn loài vật được cho là tứ linh, nghĩa là 4 con vật linh thiêng. Tương truyền, mỗi khi con vật nào trong tứ linh xuất hiện là báo điềm lành có thánh nhân ra đời. Nhưng nơi đây, rồng là loài vật xuất hiện khắp nơi, có lẽ do những người trùng tu ngôi miếu này còn dựa theo những giai thoại được ông bà xưa kể lại. Theo người dân trong vùng thì vào một đêm mưa to gió lớn, có hai con rồng xuất hiện, đánh nhau trên dòng sông Vàm Thuật. Sáng ra, nơi này nổi lên một gò đất cùng với năm bức tượng của năm mẹ ngũ hành. Từ đó, người dân lập nên ngôi miếu để thờ.

Và một câu chuyện khác được truyền khẩu trong dân gian, cách đây mười mấy năm, trên sông Bến Cát trước ngôi miếu, thường có cặp cá bông to lớn nổi trên mặt nước. Mọi người cho rằng đấy là cặp cá thần của bà Cậu, nên không ai dám động đến. Quan sát kỹ, thì thấy cặp cá này có thêm những chiếc râu giống như râu của rồng, nên nhiều người cho rằng đó là hóa thân của loài rồng.

Chính những giai thoại ly kỳ về gò đất nổi lên giữa sông với ngôi miếu này đã khiến miếu Nổi trở nên linh thiêng và tôn nghiêm hơn. Và biến cù lao bỏ hoang, chỉ rộng khoảng 2500 mét vuông này, trở thành một vùng đất thiêng của xứ Sài Gòn - Gia Định suốt mấy trăm năm qua. Dù đi lại khó khăn hơn những nơi khác, miếu Nổi ngày ngày vẫn đón không ít lượt khách từ khắp nơi trong thành phố tìm đến. Để du lịch thưởng ngoạn cũng có, mà để thắp hương cầu mong bình an, làm ăn phát đạt cũng nhiều.

Địa điểm đặc biệt

Nằm cách biệt với thành phố, miếu Nổi là một trong số ít nơi vắng vẻ, còn lưu giữ vẻ hoang sơ của một Sài Gòn xưa. Giữa bốn bề sông nước, đứng ở đây chỉ nghe tiếng tàu thuyền chạy trên sông, sóng nước vỗ vào bờ đá quanh miếu, và âm thanh của chuyến bay sắp hạ cánh. Đây là nơi lý tưởng cho những ai có tâm hồn thầm lặng, muốn lắng nghe và cảm nhận nhiều hơn là chìm trong những thanh âm ồn ào, xô bồ. Bởi vậy, nhiều năm trước, nơi đây là nơi ở ẩn của một số người muốn xa lánh phố thị. Cũng là nơi một số cán bộ cách mạng chọn làm nơi hội họp bí mật.

Cũng theo ông Lê Hữu Phước, từ thời miếu Nổi còn là ngôi miếu bỏ hoang không ai trông giữ, ông Phan Thành Lợi, cháu Phan Thanh Giản (Phan Thanh Giản quê ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre là một nhà thơ, nhà sử học lớn của dân tộc) đã từng có một thời gian ở tại đây. Tuổi già, sống cô đơn, Phan Thành Lợi đã tìm ra miếu Nổi ở ẩn, xa lánh thế sự và cuộc sống chốn phố thị. Ngày đó, thức ăn của ông mỗi ngày là đồ cúng mà người dân mang ra miếu cúng hàng tuần. Theo người dân ở đây và bà nội ông Phước thì một thời gian sau, ông Phan Thành Lợi đầu óc trở nên không bình thường, hóa điên rồi bỏ miếu đi đâu không ai rõ.

Nhà văn Sơn Nam lúc còn sống cũng thường xuyên qua lại ngôi miếu này. Thời gian đó, miếu Nổi đã được trùng tu và bản thân ông Phước cũng nhiều lần được trò chuyện cùng nhà văn Sơn Nam.

Ông Phước chia sẻ: "Nhà Văn Sơn Nam yêu thích không gian của ngôi miếu này lắm. Ông thường ra đây ngắm cảnh, tìm hiểu lịch sử của miếu Nổi. Không lễ lớn nào của miếu vắng mặt nhà văn Sơn Nam. Trước khi mất 1 tháng, ông cũng ra miếu. Và đó là lần cuối cùng nhà văn Sơn Nam ra thăm miếu".

Ông Lê Hữu Phước cho biết: "Tôi được nghe bà nội mình kể lại rằng, thời chống Mỹ, miếu Nổi là nơi các cán bộ cách mạng của ta chọn làm địa điểm diễn ra các cuộc họp bí mật. Đây cũng thường xuyên là nơi chốn trú ẩn của cán bộ, tránh sự truy lùng gay gắt của ngụy quyền Sài Gòn".

Năm 2010, miếu Nổi được công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố. Tồn tại gần 300 năm, miếu Nổi chứng kiến không biết bao thăng trầm của lịch sử hình thành vùng đất Sài Gòn - Gia Định, và sự phát triển của TP.HCM hiện đại ngày nay. Miếu Nổi hiện trở thành điểm du lịch văn hóa tâm linh, có tên trong một số tua du lịch quanh TP.HCM. Miếu nằm trên cồn đất, bốn bề là sông nước.

Hai bờ sông, bờ Tây là khu dân cư (thuộc phường 5, Gò Vấp), bờ Đông là vùng chuyên canh (thuộc phường An Phú Đông, quận 12). Bao gồm cả hai bến đò Miếu Nổi và Bến Cát, phía bờ Đông, vẫn còn lưu giữ đôi chút khung cảnh miệt vườn của vùng đất Gia Định xưa. Tránh xa những bộn bề của phố phường, nơi đây là địa điểm khá lý thú để du khách hòa mình vào thiên nhiên và cảnh sông nước êm đềm, thanh tịnh, trong mùi hương trầm lan tỏa khắp ngôi miếu thiêng.
Du lịch, GO!- Theo Hương Lam (nguoiduatin.vn), ảnh Leo Dao 
 Nguồn sưu tầm by Ngoan Trương Công

Chùa Khơ me lớn nhất VN

Tọa lạc tại ấp Vàm Ray, xã Hàm Tân, Huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, chùa Vàm Ray được chính thức khánh thành ngày 22/05/2010. Đây chính là ngôi chùa Khơ me lớn nhất Việt Nam, một nơi để các đồng bào Phật tử Khơ me gặp gỡ và cùng nhau tu tâm, tích đức.

< Điểm chung của chùa Khơ me Nam Bộ là chánh điện thường quay về hướng Đông, vì họ cho rằng con đường tu hành của Phật đi từ Tây sang Đông.

Chùa được ông Trầm Bê (một người con của Phật giáo Nam tông Khơ me) tài trợ phục chế và cải tạo, trong thời gian 3 năm với tổng kinh phí hơn 1 triệu USD (khoảng gần 20 tỷ đồng vào thời điểm năm 2010).

Chùa Vàm Ray được người dân Trà Vinh coi như một kỳ tích của Phật giáo tại đây.

Đối với người Khơ me, Phật giáo là một phần của cuộc sống và họ đã kiến tạo một nền văn hóa rực rỡ gắn liền với Phật giáo Nam tông tại vùng đất Nam Bộ. Ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, văn hóa, tinh thần của cộng đồng nên được xây dựng bề thế, trang nghiêm, chạm khắc rất tinh tế với mái cong, nóc nhọn, tháp cao vút, nằm giữa khuôn viên rộng để bà con đến làm lễ, vui chơi…

Giống như nhiều chùa Khơ me Nam Bộ, chùa Vàm Ray mang kiến trúc Angkor của người Campuchia. Chùa Vàm Ray có hai cấp sân rộng bao quanh ngôi chánh điện, được tráng xi măng. Mái có ba cấp, mỗi cấp được chia thành ba nếp, nếp giữa lớn hơn, hai nếp phụ hai bên bằng nhau, không có tháp nóc…

Điểm chung của chùa Khơ me Nam Bộ là chánh điện thường quay về hướng Đông, vì họ cho rằng con đường tu hành của Phật đi từ Tây sang Đông.

Khi vào bên trong chánh điện, các bạn sẽ choáng ngợp bởi vẻ bề thế và lộng lẫy với nhiều màu sắc, đậm chất văn hoá Khơ me, mang nét đặc thù nền tảng của Bà la môn giáo, ảnh hưởng sâu đậm văn hoá Ấn Độ.

Đối diện chánh điện là các cột trụ với hình tượng thần rắn Naga 5 đầu, dùng để thắp nến vào những ngày lễ hội, tượng trưng cho việc Phật pháp sẽ soi sáng cho nhân loại, giúp mọi người sống hướng thiện như chính loài rắn (đã được đức Phật thuần hóa – theo quan niệm của người Khơ me). Cửa vào chánh điện được chạm trổ rất công phu, tinh xảo, kết hợp giữa phong cách nghệ thuật chùa và nghệ thuật chạm khắc dân gian, tạo nên nét độc đáo cổ kính.

Tượng thánh bốn mặt “Maraprum đội đèn” ở chi tiết lan can. Những hàng cột phía ngoài chánh điện được xây dựng theo lối kiến trúc cổ Cô-ranh, phía trên tiếp giáp giữa đầu cột với mái chùa có tượng thần Krud mình người đầu chim, mỏ ngậm viên ngọc với hai tay đỡ mái chùa.

Tất cả các chi tiết, hoa văn đều được chạm khắc tỉ mỉ bằng đất sét, đặt trên 1 bàn lớn, xong được áp vữa – bê tông vào để đổ thành khuôn, sau đó dùng những khuôn này để tạo nên những chi tiết, hoa văn trên công trình.

Đỉnh cao nghệ thuật thể hiện ở những họa tiết độc đáo nơi mái vòm, tường, các hàng cột và cầu thang, như tượng đầu vị thánh bốn mặt Maraprum là tiền thân của Brahma - vị thần sáng tạo ra thế giới, nữ thần Kayno nửa người nửa chim, chim thần Marakrit.

Trên những hàng cột là phù điêu các tiên nữ và quái vật. Theo triết lý của người Khơ me, đó là những thử thách đối với phật tử trên bước đường tu thành chánh quả. Trên mái vòm và cầu thang đều chạm trổ họa tiết có thần rắn Naga, vì họ quan niệm rằng tấm lòng từ bi hỷ xả của Đức Phật đã thuần hóa được loài vật nguy hiểm này.

Tượng chằn Year hung dữ, mặc áo giáp, đứng bảo vệ ngôi chùa. Tượng chằn hình dáng to lớn, mặt dữ tợn, miệng há rộng, răng nanh to nhọn, tay cầm chày, vốn là biểu tượng cái ác, xấu, gây thương đau cho mọi người.

Nhưng tượng chằn đặt trong chùa lại là biểu tượng cái thiện vì người Khơ me tin rằng loài vật này được Đức Phật thu phục để phục vụ cho chánh điện, bảo vệ sự bình yên cho dân lành.

Những vị thần được bố trí khắp các lối đi, chánh điện như quan niệm của người Khơ me: chính những vị thần này sẽ che chở và bảo vệ họ.

Về với đồng bào Khơ me Nam Bộ trong dịp tết cổ truyền Chôl – Chnăm – Thmây hay trong các lễ hội, nghĩa là: đi trong hương hoa, nghe lời cầu kinh, niệm Phật râm ran. Tiếng trống sa-dăm hòa tiếng hát lâm thôn bay xa. Từ người già đến trẻ đều xênh xang áo mới. Các cô gái mặc xà rông sặc sỡ, tay bưng mâm có tấm lụa vàng phủ các lễ vật cúng Phật. Các chàng trai mang đạo cụ phục vụ lễ hội vừa đi vừa múa trống sa dăm rộn rã cả vùng quê.

Trải qua tiến trình lịch sử, ngôi chùa có một vị thế rất vững chắc trong đời sống xã hội và tâm thức của người Khơ me Nam Bộ. Chùa chính là nơi diễn ra các lễ hội lớn trong năm như: Tết cổ truyền Chôl – chnăm – thmây, lễ Đôn ta, lễ hội Ook – Oom – Bok, cũng là nơi tập trung bà con Khơ me đến học chữ Paly, học giáo lý, học nghề…

Người Khơ me theo đạo Phật (Phái tiểu thừa) nên mọi nghi thức lễ hội, đón mừng năm mới đều diễn ra ở các ngôi chùa cổ kính.

Du lịch, GO!- Theo PLXH, ảnh Kenh14.
 Nguồn sưu tầm by Ngoan Trương Công

Những ngôi chùa đặc biệt ở TPHCM

Không chỉ là nơi giúp con người lấy lại cân bằng, chùa chiền còn là nơi lưu giữ những dấu tích đặc sắc về kiến trúc, văn hóa, lịch sử...

Giác Lâm – chùa "lớn tuổi" nhất 

Chùa Giác Lâm thành lập năm 1744 là một trong những ngôi chùa có mặt sớm nhất ở đất Gia Định còn tồn tại đến nay, do cư sĩ Lý Thụy Long, người Minh Hương, xây dựng.

Kiến trúc chùa Giác Lâm được coi là tiêu biểu cho lối kiến trúc của các chùa Nam Bộ, với mặt bằng tổng thể theo kiểu chữ Tam, gồm 98 cột chống đỡ, bên trong bài trí 113 pho tượng cổ với nhiều chất liệu khác nhau.

< Bảo tháp xá lợi gồm 7 tầng hình lục giác nằm ở phía trước chùa Giác Lâm.

Chùa là ngôi Tổ đình danh tiếng bậc nhất, chứa đựng nhiều tư liệu quý báu về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, tôn giáo như hoành phi, câu đối, bàn thờ, đồ thờ cổ... Riêng bộ tượng Thập Bát La Hán là minh chứng rõ nét nhất cho quá trình phát triển của Phật giáo ở Nam bộ.

Điểm đặc sắc trong trang trí là chùa đã sử dụng gần 7.500 chiếc đĩa kiểu cẩn dọc theo hai mặt tường của Tây đường, điện Phật, tháp Tổ, nóc mái... và được trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập là ngôi chùa có số lượng đĩa kiểu trang trí nhiều nhất Việt Nam.

Địa chỉ: 118 Lạc Long Quân, P. 10, Q. Tân Bình, TPHCM.

Chùa Vĩnh Nghiêm – Nơi có tháp đá cao và công phu nhất Việt Nam

Chùa Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa lớn và nổi tiếng của TPHCM. Con đường phía trước chùa từng là nơi ghi dấu trận chiến cuối cùng của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi năm 1964.

Ngoài ra chùa còn được ghi nhận là nơi có tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam, với 7 tầng, cao 14 m được khánh thành năm 2003. Tháp được xây dựng với nghệ thuật trổ đá dày đặc, công phu với hoa văn, họa tiết điêu khắc phủ kín… tất cả đều theo phong cách văn hóa Lý - Trần.

Địa chỉ: 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.7, Quận 3, TPHCM.

Chùa Hoằng Pháp – Nổi tiếng với khóa tu mùa hè dành cho teen

Chùa Hoằng Pháp, nổi tiếng là nơi thu hút các tín đồ Phật giáo đến tham quan và tham gia các khóa tu Phật nhất. Trong đó có khóa tu hè trong vòng 7 ngày, rất được các teen hưởng ứng.

Đến đây, bạn được học cách tự chăm sóc bản thân, biết yêu thương, chấp nhận những vấp ngã, khó khăn như là những điều tất yếu. Trong 7 ngày mọi kết nối bên ngoài đều bị cắt đứt, teen phải tập sống “cách ly” với gia đình, không TV, không điện thoại, không internet,…

Khóa tu mùa hè còn là môi trường tâm linh lành mạnh, giúp bạn cân bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần, hóa giải buồn phiền, xây dựng hành trang cần thiết cho tương lai, tìm về về những giá trị sống đích thực. Những bài học Phật pháp không hề khô khan mà trở nên sinh động không ngờ nhờ sự lồng ghép dí dỏm của các thầy. Những quy tắc sinh hoạt nghiêm khắc như đi ngủ, thức dậy sớm… giúp teen “cai nghiện” máy tính. Đây là khóa tu hoàn toàn miễn phí.

Địa chỉ: Xã Tân Hiệp, Hóc Môn.
Xá Lợi – Chùa có tháp chuông cao nhất Việt Nam

Chùa Xá Lợi không chỉ được biết đến với kiến trúc và cảnh quan tuyệt đẹp mà còn khá nổi tiếng với những dấu chứng lịch sử về cuộc đấu tranh của Phật tử chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm kỳ thị và đàn áp tôn giáo.

Chùa được xây dựng để thờ xá lợi Phật tổ nên được đặt tên là chùa Xá Lợi. Chùa Xá Lợi là ngôi chùa đầu tiên của thành phố được xây dựng theo lối kiến trúc mới, trên là bái đường, phía dưới là giảng đường.

Chùa nổi tiếng là nơi có tháp chuông cao nhất Việt Nam gồm 7 tầng, cao 32 m, khánh thành  năm 1961. Tầng cao nhất có treo một đại hồng chuông nặng 2 tấn, với tiếng chuông ngân nổi tiếng, từng được nhiều thế hệ biết đến qua bài vọng cổ “Tiếng chuông chùa Xá Lợi” do soạn giả Viễn Châu sáng tác.

Địa chỉ: 89 Bà Huyện Thanh Quan, P. 7, Q. 3, TPHCM.

Nam thiên đệ nhất trụ - Chùa Một Cột ở miền Nam

Ngoài Chùa Một Cột cực kỳ nổi tiếng ở Hà Nội, TPHCM cũng có một nơi tương tự. Đó chính là “Nam Thiên nhất trụ” gọi nôm na là chùa Một Cột ở miền Nam, do hòa thượng Thích Trí Dũng dựng vào năm 1958 và hoàn tất vào năm 1977.

Nam Thiên Nhất Trụ tuân thủ khuôn mẫu Thăng Long nhất trụ (Chùa Một Cột ở Hà Nội) nhưng thấp và nhỏ hơn. Nhìn từ cổng tam quan, Nam Thiên Nhất Trụ được dựng giữa lòng hồ Long Nhãn, với hoa sen dập dìu trên sóng nước, vừa tạo nét gần gũi tinh khiết, vừa tạo nên không gian thanh tịnh.
Ngoài ra, đến đây bạn còn được chiêm bái tượng Đức Địa Tạng nặng 61 kg được đúc bằng kim loại quý.

Địa chỉ: 511 Đặng Văn Bi, P. Bình Thọ, Q. Thủ Đức, TPHCM.

Vạn Đức – Chùa có chánh điện cao nhất Việt Nam

Tòa chánh điện chùa Vạn Đức cao 43,5 m, là tòa chánh điện cao nhất hiện nay. Công trình mất 2 năm với hơn 60 thợ xây để thực hiện. Ngoài giá trị về mặt thẩm mỹ, thâm nghiêm, công trình còn là một kiểu mẫu cho nghệ thuật tạo hình trong kiến trúc hiện đại.

Địa chỉ: 23/4 Tô Ngọc Vân, P. Tam Phú, Q. Thủ Đức, TPHCM.

Du lịch, GO!- Theo Huyền Châu (Zing/BĐVN).

Nguồn sưu tầm by Ngoan Trương Công

Đi Chùa Nổi mùa nước nổi.

  Được xây dựng cách đây hơn 200  năm, trên một gò cao thuộc ấp Cả Bản, xã Tuyên Bình, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, thuộc vùng sâu của Đồng Tháp Mười. Chùa còn có tên gọi là Nổi Cổ Sơn Tự, chưa khi nào vắng khách dù ở tận vùng sâu giáp biên giới Campuchia. 

< Chùa Nổi, còn gọi là 'Nổi Cổ Sơn Tự'. 

Nơi đây, hàng năm chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt. Mùa nước nổi ở Tuyên Bình thường bắt đầu vào khoảng tháng 6 và kéo dài đến tháng 11 âm lịch. Khi ấy bốn bề trắng xóa nước, còn chùa Nổi thì bật lên  giữa những tán cây cổ thụ cao ngất, xanh rì. Muốn qua chùa, chỉ còn cách bắt xuồng, ngồi ghe...

Người ta đến đây không chỉ để chiêm ngưỡng một ngôi chùa cổ có niên đại 'cổ lai hy' mà còn để tìm hiểu về ngôi chùa với kỳ tích được lưu truyền trong dân gian, qua bao mùa lũ đỉnh cao, chùa vẫn không bao giờ bị chìm chân dưới nước.

Chùa Nổi không lớn, kiến trúc đơn giản nhưng luôn đông khách thập phương vì nơi  đây được xem là chốn thuần khiết cho đời sống tín ngưỡng, tâm linh và mang đậm nét văn hóa cổ xưa. Nhiều người đến nơi đây còn được nghe một câu nói vui: "Muốn nổi thì phải đi chùa Nổi vào mùa nước nổi". Bởi khi ấy giữa bốn bề là nước, chùa Nổi bật lên giữa những tán cây cổ thụ cao ngất, xanh rì. Muốn tới chùa, thì chỉ còn cách ngồi xuồng mà đi qua sông.

Một số tài liệu viết rằng chùa được xây dựng vào năm 1823, do thiền sư Thiện Nhiêu tạo dựng. Sư trụ trì hiện nay của chùa là sư thầy Thích An Phát cho biết: "Tính đến nay chùa đã tồn tại khoảng 250 năm. Tôi cũng không rõ chùa được dựng vào năm nào. Trải qua thời gian và hai cuộc chiến tranh ác liệt, chùa đã bị hư hỏng nặng. Ngôi chùa hiện tại được sửa chữa lại và xây dựng thêm vào năm 1985".

Cùng với chùa Gò Ô ở Hưng Điền A, chùa Nổi là một trong những di tích tại Long An mang đậm nét "Văn hóa Rạch Núi" của cộng đồng cư dân nông nghiệp lâu niên ở Nam bộ. Tại đây, năm 2002, những nhà khảo cổ đã thu nhặt được nhiều di vật liên quan đến kiến trúc cổ thuộc văn hóa Óc Eo như gạch xây dựng, diềm ngói, đầu ngói búp sen và nhiều mảnh gốm.

Trong đó, có phần đế của một tượng Phật tham thiền bằng sa thạch, hình tròn, màu xanh lục, được phủ một lớp patine mỏng màu xám nâu, vốn rất quen thuộc trong nhiều di tích thuộc văn hóa Óc Eo.

Ngồi trên chuyến phà lộng gió băng ngang sông Vàm Cỏ Tây qua chùa Nổi mùa nước nổi, nhìn bông điên điển lốm đốm vàng dọc bờ sông, ai đó nghêu ngao câu hát quen thuộc: "Gió Tháp Mười đã thổi rất sâu... Bầu trời thì cao mà cánh đồng thì rộng. Mà anh đi đâu... về đâu...?".

Câu hát cứ như lời trách móc giữa "bến và bờ". Bởi chùa Nổi không chỉ là nơi đến cầu nguyện ơn trên mà còn là địa điểm để thề nguyền răng long đầu bạc.

Chùa Nổi xa xôi cách trở nhưng chưa bao giờ vắng khách phương xa. Người ta đến chùa Nổi không phải để muốn "nổi" như cách nói vừa đùa vừa thật mà còn là muốn chiêm ngưỡng một Cổ Sơn Tự (tên khác của chùa Nổi), uy nghiêm trên gò đất nhỏ ở vùng giáp ranh với đất bạn Campuchia; muốn hiểu thêm vì sao ở vùng rốn lũ của Tháp Mười, 300 năm trước, những người khai phá đã chọn nơi này để xây một ngôi chùa mà qua bao mùa lũ đỉnh cao, chùa vẫn không hề chìm chân dưới nước.

Đến chùa Nổi vào mùa nước nổi bao giờ cũng hấp dẫn hơn. Từ bến xe miền Tây, người ta mua vé thẳng về Mộc Hóa rồi bắt xe ôm đi đến bến phà chùa Nổi (giá xe ôm ban ngày 15.000đ, ban đêm 20.000đ).

Lênh đênh trên phà qua sông Vàm Cỏ Tây, bạn có thể cảm nhận không khí hào hùng từ thời Nguyễn Trung Trực vọng về. Nếu đến đúng dịp lễ chùa, bạn sẽ được "hậu liêu" Cổ Sơn Tự chiêu đãi miễn phí những món kèo nèo, rau hẹ nước, bông súng, bông điên điển chấm mắm tương kho, sau khi được đại sư trụ trì bốc cho một quẻ âm dương thường lành nhiều dữ ít.

Chúng tôi hỏi sư thầy về câu chuyện dân gian tương truyền rằng, vào mùa nước lũ, cứ nước dâng đến đâu, ngôi chùa này lại nổi lên đến đó, không bao giờ ngập nước. Thầy Thích An Phát kể: "Tôi cũng không biết ngôi chùa này có nổi lên theo nước lũ hay không. Nhưng tôi đã tu tại chùa này khi còn là một thanh niên trẻ, tới nay đã gần 30 năm. Có những năm nước ròng lên đến đỉnh điểm, bốn bề trắng nước, thì ngôi chùa này vẫn không hề bị ngập. Khi ấy, nơi đây trở thành nơi chạy lũ của bà con quanh vùng".

Thầy trụ trì còn kể thêm một câu chuyện lưu truyền lại trong dân gian: 300 năm trước, nơi đây chỉ là một cái gò đất nổi lên giữa một bên là cánh đồng, một bên là dòng sông Vàm Cỏ Tây hoang vắng. Lũ trẻ chăn trâu thường chọn cái gò đất này làm nơi dừng chân, nô đùa cùng nhau. Chúng đào những chỗ đất ướt trên gò nhào nặn thành hình những ông tượng để chơi. Nhiều khi mải chơi quá mà bỏ quên cả bầy trâu.

Cha mẹ bọn trẻ giận quá mới đem những bức tượng đất quăng hết xuống sông Vàm Cỏ Tây. Nhưng có điều lạ là những tượng đất này không chìm mà nổi trên mặt nước. Dân làng thấy vậy cho đây là chốn lạ lùng, linh thiêng mới lập nên một ngôi chùa để quanh năm thờ phụng, cầu nguyện.

Ra đến cổng, chúng tôi gặp một ông lão dừng chân tránh nắng nơi bóng cây trước cổng chùa, tên Hai Chiến. Ông Chiến kể, ông sống ở vùng này đã hơn 60 năm. Năm nào vùng này cũng trắng xóa nước vào mùa nước nổi. Những năm gần đây, cuộc sống khá hơn, một số bà con đã có điều kiện nâng nền nhà mình lên cao hơn tránh lũ. Còn những năm trở về trước, mỗi khi lũ về gần như nhà nào cũng bị ngập, phải chạy lũ cực lắm. Bà con thường tìm đến chùa này xin tránh lũ. Thật kỳ lạ, ngôi chùa này nói là cao, nhưng cũng chẳng cao hơn xung quanh bao nhiêu. Vậy mà nước lũ có lên đến đâu cũng không bao giờ dâng được vào chùa".

Quan sát thì thấy, đúng là ngôi chùa này nằm trên một cái gò chỉ cao hơn so với xung quanh chút ít. Nhất là so với cây cầu treo chót vót, cao hơn mặt sông chừng 2- 3mm, bắc ngang sông Vàm Cỏ Tây, thì đứng ở chùa chỉ có thể ngước mặt mà nhìn lên. Ấy vậy nhưng vào mùa nước nổi, người ta vẫn không qua sông bằng đường bộ được, mà chỉ có thể ngồi xuồng, ghe mà qua chùa. Bởi vì khi ấy, con đường dẫn vào chùa sát ven sông bị ngập nước không còn lối đi. Phải chăng, điều này mãi mãi là một sự huyền bí chưa có lời giải đáp của ngôi chùa nằm trên gò nổi thiêng của miền đất Phật độ?        

Du lịch, GO!- Tổng hợp từ PhattuVN, PhunuToday.
Nguồn sưu tầm by Ngoan Trương Công

Di tích văn hóa chùa Cà Săng (Vĩnh Châu).

Chùa Cà Săng (Vĩnh Châu) là một trong những ngôi chùa Khmer có nhiều công trình kiến trúc nổi bật mang đậm bản sắc văn hóa của người Khmer Nam bộ. Chùa vốn có pháp danh là chùa Sêrây Cro Săng (có nghĩa là Ánh bình minh của cây bần thăng), chùa có vị trí nằm cách trung tâm thị xã Vĩnh Châu chừng 2 cây số về hướng đông bắc (đường về cầu Mỹ Thanh 2), thuộc ấp Cà Săng, Phường 2 (trước đây là xã Vĩnh Châu).

Theo các cụ cao niên ở đây kể: “Trước kia tại gò đất này có nhiều cây bần thăng mọc hoang, một loại cây cao lớn giống như cây gáo (hiện nay được dùng làm cây kiểng vì cây dễ uốn cong để tạo dáng), người Khmer thường dùng trái nấu canh chua, vì trái có vị chua thanh”.

< Chánh điện chùa Cà săng trong ngày lễ Kiết giới.

Chùa Cà Săng là một ngôi chùa cổ được hình thành vào năm 1775, lúc đầu chỉ xây cất bằng gỗ, lá. Sau này: từ sự đóng góp của bà con phật tử gần xa, chùa đã xây dựng ngôi chánh điện tráng lệ với tổng kinh phí xây dựng trên hai tỷ đồng để làm nơi tổ chức các lễ nghi tôn giáo. Từ kết cấu cổng chùa cho đến các dãy nhà liêu, nhà hội, các tòa tháp đều được thiết kế theo nguyên bản xưa được xếp loại di tích văn hóa cấp tỉnh, nổi bật là ngôi chánh điện được xây trên nền đất cao ráo, trên mái có kiến trúc giống như tháp Ăng kor Wath. Các công trình có nét hoa văn và nghệ thuật tạo hình rất độc đáo gây được ấn tượng cho du khách thập phương.

Bước vào cổng chùa, trước mắt chúng tôi là một khuôn viên rộng lớn, đây là nơi sinh hoạt ngoài trời cũng như tổ chức các chương trình văn nghệ, thể thao của bà con phật tử, nối tiếp là ngôi sa la (nhà hội) khang trang, bên trong có bệ thờ Phật dành để tổ chức các lễ nghi tôn giáo như: tụng kinh, thuyết pháp, dâng cơm trong các dịp lễ hội, hoặc hội họp của cộng đồng.

Dọc hai bên khuôn viên chùa là dãy nhà liêu dành cho các vị sư nghỉ ngơi, còn nhà ăn được thiết kế ở phía sau cùng, nằm bên trái từ hướng đi vào là ngôi chánh điện uy nghi, lộng lẫy luôn là niềm tự hào của bà con phật tử nơi đây, bởi theo quan niệm của bà con Khmer, ngôi chùa là bộ mặt của thôn, ấp, nơi nào có ngôi chùa khang trang nơi ấy sẽ có cuộc sống sung túc.

Từ lâu, ngôi chùa đã trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục, là nơi sinh văn hóa tinh thần của bà con, ở đây còn mở lớp dạy chữ, dạy nghề, nhất là dạy đạo làm người và cũng là nơi gởi gắm tâm tư, tình cảm của bổn đạo ngay từ khi còn sống cho đến khi về cõi niết bàn. Vì vậy, khi chết tro cốt cũng đem vào chùa chưng cất trong các toà tháp.

Ngày nay, với phương châm: “Tốt đời, đẹp đạo” vì mục tiêu “Đạo pháp dân tộc - chủ nghĩa xã hội”, chùa Cà Săng đã có nhiều đóng góp vào phong trào thi đua yêu nước như duy trì các hoạt động lễ hội bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc, đào tạo nhiều lớp nhân sĩ, trí thức Khmer như mở các lớp: Vini, Pali, ánh sáng hè góp phần vào duy trì phát triển ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc, đồng thời hướng dẫn, vận động bà con thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, đóng góp vào các hoạt động nhân đạo - từ thiện.

Đáng kể, chùa Cà Săng còn là địa chỉ đỏ có nhiều công lao trong sự nghiệp giải phóng đất nước, đã nuôi chứa nhiều cán bộ, chiến sĩ cách mạng, cố Hòa thượng Lý Thi (nguyên là trụ trì) là một nhà sư yêu nước có nhiều thành tích trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.

Hưởng ứng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, nhà chùa đã chỉnh trang cảnh quan xanh sạch đẹp, thành lập phòng đọc sách và các đội  văn nghệ, thể thao, trồng thêm cây xanh gây bóng mát, giữ gìn, chăm sóc các loại cây cổ thụ để tạo sự thanh thoát và mỹ quan, thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội để bà con cúng bái Phật pháp và vui chơi, giải trí sau những ngày lao động mệt nhọc. Nhiều năm qua, chùa được công nhận đạt chuẩn văn hóa, các cấp, các ngành tặng nhiều bằng khen, giấy khen.

 Du lịch, GO!- Theo Tuyen Giao Soc Trang.

Nguồn sưu tầm by Ngoan Trương Công

Chùa Minh Thành - Pleiku

Pleiku quanh năm lãng đãng sương mù và thường hội đủ 4 mùa trong một ngày, sáng Xuân, trưa Hạ, chiều Thu, tối Đông - có lẽ nhờ thế mà Pleiku đẹp đến say lòng người. 

Tại Pleiku có một quần thể kiến trúc mang tính tâm linh góp phần làm nên nét đẹp của thành phố cao nguyên. Đó là chùa Minh Thành, một ngôi chùa không cổ nhưng là nơi có thể níu bước chân của những người yêu cái đẹp.

Chùa tọa lạc ở số 14A đường Nguyễn Viết Xuân, phường Hội Phú, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai. Chùa cách trung tâm thành phố 2km về hướng tây nam.

Chùa Minh Thành do Đại Đức Thích Tâm Mãn làm trụ trì. Đai Đức xuất gia và tu học từ 6 tuổi và ở TP Pleiku, tỉnh Gia Lai, năm 1987 Thầy vào chùa Niết Bàn núi Thị Vải, năm 1989 Thầy lên Sài Gòn và ở chùa Long Bửu, Khánh Hội quận 04.

Trong khoảng thời gian thầy ở chùa Long Bửu 11 năm và du học Đài Loan được 7 năm, Đại Đức Thích Tâm Mãn đã tốt nghiệp thủ khoa cao học mỹ thuật học Phật giáo, kiến trúc chùa tháp Phật giáo, nghệ thuật Phật giáo, là người tu sĩ đầu tiên ở Việt nam tốt nghiệp khoa này. Đại Đức đang là giảng viện của Phật học viện Phật giáo.

Ngôi Chánh Điện có hai tầng, Đại Hùng Bửu Điện, Đại Bi Điện được bố trí theo một hình thức đơn giản của mạn-đà-la. Đó là một vòng tròn, được tượng trưng như một đóa hoa sen nở trọn, và vòng tròn này là căn bản vũ trụ luận của Mật giáo.

Thông thường, có hai bộ mạn-đà-la. Kim cang giới mạn-đà-la biểu tượng cho trí tuệ sở chứng của Phật. Thai tạng giới mạn-đà-la biểu tượng cho phương tiện độ sinh của Ngài. Mỗi mạn-đà-la đều dựa trên một số chủ điểm tư tưởng của Đại thừa giáo.

Những tác phẩm nghệ thuật chạm khắc tượng ở nơi đây, dựa trên nền tảng của triết học Mật giáo. Nó bao hàm cả hai khía cạnh văn chương và triết lý, gần như tất cả tinh hoa của tư tưởng và văn học Phật giáo Đại thừa Mật tông được gói trọn vào đây.

Trước cửa chánh điện có tạc hai tượng Kim Cang Lực Sĩ cao 6m, trông rất sống động với cái nhìn dữ dội, xoáy vào tâm can kẻ tà tâm nhưng vẫn là hiện thân của cái thiện.

Cửa chánh điện chiều cao 6m, khung cửa dày 4 tấc với 6 cánh cửa dày 2 tấc, tất cả cửa được chạm khắc 6 vị đại Bồ Tát. Chánh điện chùa cao 16m, trần nhà làm bằng gỗ pơ-mu, và sập gụ.

Bộ lư và đèn được làm bằng chất liệu gốm, phục chế theo phong cách đời Lê mạt. Bàn thờ Phật tại chánh điện lớn nhất , với chiều dài 6m và cao 1,2m. Bộ chuông mõ lớn nhất. Kế đến là cặp bảo cái, cặp tràng phan, bệ hoa sen được đưa từ Nhật về. Các tượng Phật và Bồ tát thì được đưa từ Đài Loan về.

Chính giữa điện tôn trí tượng Tỳ Lô Giá Na Phật, cao 6m, nặng 16 tấn, mỗi cách sen có chạm khắc nổi những vị Phật, và vách phía sau là bát thập bát Phật (88 vị Phật). Ngũ phương Phật (5 vị Phật) Đông, Tây, Nam, Bắc, bát bộ kim cang (8 vị Hộ Pháp), tượng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, ngoài ra còn có các tượng Văn Thù, Phổ Hiền,

Hai bên tả hữu, tôn trí tượng Thập nhị Duyên Giác (12 vị đại bồ tát), mỗi tượng cao ba mét làm bằng gỗ mít, sơn son thiếp vàng, Hai bên vách chánh điện có 30 ngàn vị Phật

Tất cả các bức tượng này được chạm nổi vào tường rất công phu. Thẳng theo hướng tây tầng dưới của chánh điện là; Đại Bi đường thờ Quan Thế Âm Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn, mà theo cách gọi dân dã đó là Phật nghìn mắt nghìn tay, theo phong cách Việt Nam, cao 7,5m, thờ hai bên tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn là 2 tượng Hộ Pháp cao 3m, ba pho tượng được chạm khắc bằng gỗ.

Bên trái chánh điện là tháp Từ Ân thờ tổ khai sơn, tháp có ba tầng mái, lợp ngói vảy rồng, trang trí rồng và hoa sen cách điệu. Bên trái chánh điện là tháp chuông, tôn trí đại hồng chung nặng 4 tấn. Trước sân chùa Tượng đức Phật A Di Đà bằng đá, cao 7,5m, nặng 40 tấn được tôn trí uy nghiêm giữa hồ nước Liên Trì ao sen với hoa nở ánh hồng cả mặt nước. Trước ao Liên Trì là lư hương bằng đồng lớn nhất, cao 4m, nặng 4 tấn.

Một công trình khác đang được thi công và sắp hoàn thành đó là ngôi bảo tháp thờ Xá Lợi 9 tầng cao 72m, được tôn trí bên trong bảo tháp là 4 vị Thiên thủ Thiên nhãn, cao 8m và ngang 3,5m, được chạm khắc rất tinh tế sống động từng chi tiếc bằng gỗ mít. Tầng 1 và các tầng khác sẽ là nơi thờ thất Phật và Xá lợi của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Bên phải chánh điện là khu tăng phường (gồm trai đường, giảng đường, thiền đường và tàng kinh cát) có diện tích hàng ngàn mét vuông, và những công trình khác như; phương trượng đường; khách đường. Những công trình đang sắp hoàn thành, xây cổng tam quan; nhà Tổ; nhà tăng; Điện thờ 500 vị La hán được làm bằng gỗ mít. Giới đường, đang chuẩn bị thi công, điện thờ tứ Thiên Vương.

Nghiêng ngả trong dòng đời ngược xuôi, du khách sẽ thật sự bình an, thanh tịnh khi đặt bước chân tới nơi cửa chùa Minh Thành. Để tạm trút bỏ trút bỏ tấm áo trần tục, để được sống trong những giây phút lắng đọng, nghe tiếng bình yên của cuộc đời.
Chùa Minh Thành không chỉ là điểm dừng chân của những tìn đồ Phật giáo mà còn là điểm đến của bao con người.
Du lịch, GO!
 Nguồn sưu tầm by Ngoan Trương Công